Home

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM KHUẨN - NGUYÊN NHÂN VÀ TRIỆU CHỨNG - Nhiễm Trùng Nhiễm Độc Ký Sinh Trùng

Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn là gì?

- Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn là tình trạng nhiễm khuẩn với các tổn thương đặc hiệu là sùi và loét xảy ra trên lớp nội tâm mạc (trên các van tim, vách tim) hoặc nội mạc một số mạch máu lớn.
- Bệnh thường xảy ra trên một bệnh nhân đã có bệnh tim mắc phải (bệnh van tim) hoặc một số bệnh tim bẩm sinh, thậm chí cả ở nùi- số bệnh nhân đã được thay van tim nhân tạo.
- Những đặc tính của bệnh đã được xác định lần đầu bởi nhừng nghiên cứu của Jaccoud (1882), Osler (1885), vì vậy bệnh có khi còn được gọi là bệnh Jaccoud - Osler.

I. NGUYÊN NHÂN VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM KHUẨN

1. Vi khuẩn gây bệnh
Thường gặp nhất là liên cầu, sau đó là tụ cầu, phế cầu, não mô cầu, lậu cầu, tràng cầu khuẩn (liên cầu D), vi khuẩn yếm khí, nấm v.v...
2. Đường vào của vi khuẩn
- Nhiễm khuẩn răng miệng, nhiễm khuẩn ngoài da, nhiễm khuẩn do nạo phá thai, nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn tiêu hoá...
- Một số thủ thuật không được vô khuẩn cẩn thận như đặt catheter, thông tim, chạy thận nhân tạo, truyền máu v.v...
- Một số trường hợp không tìm thấy rõ đường vào của vi khuẩn.
3. Vai trò của bệnh tim có trước
- Các bệnh van tim hay bị viêm nội mạc nhiễm khuẩn nhất là:
Hở van động mạch chủ, hở van hai lá, hở hẹp van hai lá hở hẹp van động mạch chủ, hẹp van hai lá, hở van ba lá...
- Các bệnh tim bẩm sinh hay bị viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn nhất là: Còn ống động mạch, thông liên thất, Fallot 4, van động mạch chủ chỉ có hai lá van, hẹp eo động mạch chủ v.v...
Rất hiếm khi thấy thông liên nhĩ có biến chứng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.

II. TRIỆU CHỨNG VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM KHUẨN

A. LÂM SÀNG VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM KHUẨN

Trên một bệnh nhân có bệnh tim, tự nhiên xuất hiện:
1. Sốt
- Sốt "không rõ nguyên nhân", sốt kéo dài trên 10 ngày. Thường là sốt vừa, nhưng sốt có tính chất dao động, sốt dai dẳng.
- Kèm theo sốt, bệnh nhân thường mệt mỏi, chán ăn, đau khớp, cơ thể xanh xao, gầy sút.
2. Biểu hiện ở tim
- Tuỳ theo từng bệnh tim khác nhau mà ta có thể nghe thấy các tiếng thổi tâm thu, thổi tâm trương, thổi liên tục...
Ta có thể gặp các biểu hiện của suy tim trong khoảng một nửa các trường hợp.
3. Lách to
Thường lách không to nhiều mà chỉ mấp mé bờ sườn hoặc vượt quá bờ sườn một vài centimet.
4. Biểu hiện ở da, niêm mạc và ở ngón tay
- Có thể có xuất huyết dưới da và niêm mạc dưới dạng những đốm xuất huyết.
- Thiếu hiệu Janeway: ít gặp, biểu hiện bằng những nốt xuất huyết nhỏ ở lòng bàn tay hoặc gan bàn chân,
- Móng tay khum và ngón tay dùi trống. Là triệu chứng có giá trị gợi ý chẩn đoán, nhưng thường là một dấu hiệu muộn.
- Dấu hiệu chín mé giả: Là những nốt ở múp đầu ngón tay, màu đỏ tím, ở giữa có một chấm trắng, đau nhiều.
5. Các tai biên tắc nghẽn mạch
Các tai biến này vì hay xảy ra nên có thể được xêp vào triệu chứng của bệnh. Đó là các biểu hiện của:
- Nhồi máu lách, thận, não, mạch vành, động mạch chi...
- Có thể gặp mù đột ngột do tắc động mạch võng mạc trung tâm.

B. CẬN LÂM SÀNG VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM KHUẨN

1. Xét nghiệm máu
a. Cấy máu: Là xét nghiệm cần làm nhất loạt trước khi cho kháng sình. Để tăng tỷ lệ cấy máu dương tính, cần:
- Cấy máu nhiều lần, cấy máu khi bệnh nhân đang sốt, cấy trong nhiều môi trường khác nhau, cho thêm men Penicillin vào môi trường nuôi cấy. Cần chú ý nếu cây máu âm tính vẫn không loại trừ được chẩn đoán. Khi cấy máu dương tính sẽ vừa giúp cho chẩn đoán xác định, vừa hướng dẫn cách điều trị thông qua kháng sinh đồ thu được.
b. Xét nghiệm khác
- Tốc độ lắng máu: Bao giờ cũng tăng cao
- Công thức máu: Số lượng hồng cầu giảm nhẹ, số lượng bạch cầu tăng, nhất là bạch cầu đa nhân trung tính.
2. Xét nghiệm nước tiểu
- Protein niệu (+)
- Xét nghiệm cặn Addis: Thấy có đái máu vi thể trong 70-80% các trường hợp.
3. Siêu âm tim
- Giúp cho chẩn đoán xác định bệnh (kể cả khi cấy máu âm
tính) khi phát hiện ra các tổn thương sùi trên bề mặt các van tim.
Đôi khi siêu âm còn giúp phát hiện một số biến chứng của bệnh
như: Đứt các dây chằng, cột cơ, thủng các vách tim.

III. ĐIỀU TRỊ VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM KHUẨN

A. ĐIỀU TRỊ NỘI VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM KHUẨN

- Tuỳ loại vi khuẩn và kháng sinh dồ mà cho kháng sinh thích hợp.
- Thời gian điều trị kháng sinh khoảng từ 4 - 6 tuần
- Nên phối hợp nhiều loại kháng sinh
+ Thường dùng:
• Penicillin 10 - 30 triệu đơn vị/ngày, giỏ giọt tĩnh mạch.
• Hay phối hợp với Gentamicin lmg/kg X 3 lần/ngày, tiêm bắp hoặc giỏ giọt tĩnh mạch.
+ Nếu dị ứng với Penicillin thì cho:
• Vancomycin: 30mg/kg/24h, chia làm 2 - 4 lần, tiêm tĩnh mạch.
• (Có thể dùng Vancomycin đơn thuần hoặc phôi hợp với Gentamicin).

B. ĐIỀU TRỊ NGOẠI VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM KHUẨN

Trong viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, có 2 trường hợp cần phải chỉ định phẫu thuật, cắt bỏ van tim đã bị tổn thương nặng và thay bằng một van tim nhân tạo khác. Hai trường hợp đó là:
- Suy tim tiến triển đo cấu trúc của van tim bị phá huỷ nặng nề.
- Hoặc viêm nội tâm mạc do một loại vi khuẩn kháng thuốc rất mạnh (sau 7 - 8 ngày đã điều trị kháng sinh mà cấy máu vẫn dương tính).

C. ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM KHUẨN

Mặc dù cho đến nay chúng ta đã có nhiều loại kháng sinh mới rất tốt song viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn vẫn luôn là một bệnh nặng, đe đoạ tính mạng của bệnh nhân. Vì vậy, việc điều trị dự phòng cho các bệnh nhân có các bệnh van tim hoặc tim bẩm sinh là rất cần thiết. Cụ thể là:
- Điều trị kháng sinh cho mọi nhiễm khuẩn dù là nhỏ như: Viêm họng, viêm xoang, viêm lợi, viêm bàng quang ...
- Trước, trong và sau khi tiến hành các thủ thuật dù là nhỏ trên tất cả các bệnh nhân tim thì đều phải dùng kháng sinh.
- Tiến hành phẫu thuật sớm cho những bệnh nhân tim bẩm sinh có nguy cơ nhiễm khuẩn cao như còn ống động mạch, thông liên thất...

Các Bài Viết Cùng Chuyên Mục

-