Home

TRIỆU CHỨNG HỌC NHlỄM KHUẨN TRONG BỆNH LÝ NGOẠI KHOA - Nhiễm Trùng Nhiễm Độc Ký Sinh Trùng

TRIỆU CHỨNG HỌC NHlỄM KHUẨN TRONG BỆNH LÝ NGOẠI KHOA

1. NGUYÊN NHÂN VÀ DIỄN BIẾN CỦA CÁC NHIỂM KHUẨN TRONG NGOẠI KHOA
- Con người sống trong một môi trường đầy nhiễm khuẩn. Cơ thể con người được hàng rào da và niêm mạc bào vệ vững chắc, không cho vi khuẩn xâm nhập vào trong sâu- hàng rào đó là vững chắc, nếu đó là người lớn đã trưởng thành.

Chẳng hạn có một người lớn gãy xương kín. Dù môi trường bên ngoài là bẩn song hàng rào da che chở tốt nên không bị nhiễm khuẩn. Ở trẻ em trái lại hàng rào da yếu, che chở không tốt nên khi bị đụng dập vùng khớp bị gãy xương kín, thầy thuốc nhìn và quan sát thường thấy da lành lặn thế mà trong khớp có thể thành mủ, ổ gãy xương có thể có mủ. Trẻ càng bé hàng rào da có về càng yếu. Trong rất nhiều thao tác và thù thuật ngoại khoa có một số ít là các thủ thuật kín: ví dụ nắn bó cho gãy xương kín; phần lón là các thủ thuật này làm cho ổ thương tổn kín biến thành ổ hở, ổ này phơi bày nhiều giờ trong môi trường ít nhiều là bẩn nên khó tránh bị nhiễm khuẩn.
- Quá trình nhiễm khuẩn diễn biến như sau:
Khi vết thương hở rộng (do tai nạn, do phẫu thuật.w...) các vi khuẩn xâm nhập vào trong sâu qua vết thương. Đó là " nhiễm khuẩn nguyên phát"... vi khuẩn trong nhiễm khuẩn nguyên phát có 2 loại khác nhau bằng loại vi khuẩn ở đồng ruộng, đường xá.vv... thường là yếu, trái lại vi khuẩn ở cống rãnh ở khu đất nhiễm bẩn do phân người và gia súc (doanh trại cũ...) nhất là vi khuẩn của bệnh viện thường là mạnh và rất độc quen nhờn kháng sinh.
Nằm trong vết thương, với thời gian kéo dài do xử trí muộn vi khuẩn gặp môi trường thuận lợi ở vết thương sẽ tăng sinh rất mạnh. Những điều kiện thuận lợi ở vết thương là những ngóc ngách máu tụ, dị vật, tổ chức bị thiếu máu nuôi do cân chèn ép, do hỏng động mạch.vv.. Khi mổ phơi bày vết thương rộng trong thời gian lâu, vi khuẩn còn xâm nhập vào vết thương từ không khí, từ bàn tay người, hơi thở, nước bọt của kíp mổ và từ chính bề mặt da lân cận vết thương (vi khuẩn trồi lên qua tuyến mồ hôi, tuyến bã..)
Vi khuẩn gặp điều kiện thuận lợi tăng sinh mạnh mẽ tạo ra tình trạng "Nhiễm khuẩn thứ phát”. Ngoài việc nhiễm khuẩn do vi khuẩn còn thấy độc tố do phản ứng viêm của tổ chức bị tổn thương.
Thực nghiệm của EleK và Conen: Muốn gây một ổ nhiễm mủ dưới lớp da lành cần 2-8 triệu tụ cầu khuẩn vàng (tiêm nhũ tương có vi khuẩn). Nếu để sót dị vật như một sợi chỉ ở vết thương, chỉ cần một vạn vi khuẩn. Nếu chỉ buộc gây thiếu máu nuôi và oxy cho tổ chức thì chỉ cần 100 tụ cầu.
Trong 2 yếu tố thì yếu tố vi khuẩn xâm nhập vết thương ít quan trọng hơn còn yếu tố môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển là quan trọng nhất. Phân tích kỹ hơn cần biết các điểm sau đây:
1. Chủng loại, số lượng, độc tính của vi khuẩn nằm trong vết thương.
2. Sự hiện diện và khối lượng tổ chức mất sức sống trong vết thương.
3. Sự có mặt của dị vật trong tổ chức (hữu cơ, vô cơ) và độc tính của nó.
4. Loại vết thương, vị trí vết thương, thời gian bao lâu kể từ khi bị thương.
5. Sức đề kháng tại chỗ và toàn thân của cơ thể, tuổi bệnh nhân.
6. Thời gian ban đầu điều trị chất lượng điều trị


Đa số bắt đầu bằng tình trạng viêm tại chỗ với triệu chứng: Sưng, nóng, đỏ, đau và mất cơ năng. Lúc này vết thương chưa có mủ. Sau đó tổ chức hoại tử và thành mủ, tạo nên một áp xe. Áp xe là một ổ mủ, khu trú được tổ chức bao vây, thường có vỏ bọc. Nhiễm khuẩn vết thương do tạp khuẩn có thể tự khỏi hay được khu trú lại.
Nếu vết thương có vi khuẩn độc, quá trình viêm nhiễm sẽ lan rộng theo tổ chức liên kết thành ra viêm tấy. Viêm tấy lan rộng theo tổ chức liên kết dưới da, lớp lỏng lẻo giữa các bó cơ và cân, dọc theo các bao gân.
Viêm nhiễm có thể lan xa theo đường bạch mạch tĩnh mạch (viêm tắc tĩnh mạch) cá biệt gây ra có cả theo động mạch gây ra hoại tử và hoại thư. Có khi tạo nên các hốc mủ trong cơ thể (mù màng phổi túi mật....)
Vi khuẩn yếm khí còn gây hoại tử hoại thư chỉ do sưng nề quá nhiều và gây cản trở dòng máu nuôi chi. Có khi độc tố của vi khuẩn lan vào dòng tuần hoàn lên não tuỷ gây bệnh như uốn ván.
Từ ổ viêm không những độc tố vi khuẩn tràn vào máu mà còn thấy chính vi khuẩn lan theo dòng máu (vi khuẩn có trong máu: bacteriemie). Vi khuẩn phát triển bacteriemie mạnh thành nhiễm khuẩn huyết (Septicémie) lan rộng với các ổ mủ nhiều nơi, hoặc khu trú thành cốt tuỳ viêm cấp tính do đường máu.
Nhiễm khuẩn sau tai nạn, sau mổ thường do 3 loại vi khuẩn sau đây:
1. Tụ cầu khuẩn vàng
2. Proteus vulgaris
3. Trực khuẩn mủ xanh.
Ba loại này ngày nay tràn ngập môi trường bệnh viện nhất là ở quần áo nhân viên y tế, ở da và mũi của bệnh nhân.
2. VIÊM HỆ THỐNG BẠCH MẠCH
Khi có một vết thương bị viêm nhiễm ví dụ ở một đầu chi, ổ viêm được cơ thể bao vây khu trú lại, một số vi khuẩn không được bao vây sẽ lan truyền về phía gốc chi theo đường bạch mạch. Trên lâm sàng, từ ổ viêm của một đầu chi sẽ xuất hiện một số đường ngoằn ngoèo, màu đỏ đi về phía gốc chi. Đó là viêm bạch mạch. Trên đường đi của bạch mạch ta phát hiện các hạch bạch huyết sưng to, viêm, đau, đó là viêm hạch bạch huyết. Các hạch bạch huyết là các hàng rào ngăn cản không cho vi khuẩn lan vào cơ thể.
Các hạch bạch huyết viêm có nhiều mức độ:
- Viêm hạch bạch huyết cấp tính
- Viêm hạch bạch huyết thành mủ
- Viêm tấy hạch lan toả.
3. ÁP XE NÔNG: Áp xe nông là một ổ viêm khu trú và thành mủ- Xung quanh ổ áp xe là một hàng rào bao vây của cơ thể. Hàng rào này bao gồm tổ chức liên kết xơ vững chắc, vách áp xe có nhiều bạch cầu, các đại thực bào, các lympho bào. Trong lòng áp xe là tổ chức hoại tử và thành mủ, nhiều xác bạch cầu chết, nhiều vi khuẩn gây bệnh.
Trước một áp xe nóng, ngươi thầy thuốc cần chú ý hai điểm:
Khi một ổ áp xe đang hình thành từ một vùng viêm tấy, vách của ổ áp xe sẽ hình thành ngày một vững chắc, cần chờ ổ áp xe hình thành xong mọi chỉ định rạch tháo mủ.
Khám lâm sàng: Vùng tấy đỏ và thâm nhiễm cứng lan toả thu nhỏ lại. ổ áp xe mềm, đôi khi ở giữa có vùng hoại tử sắp bục mủ ra ngoài.
Rạch áp xe phải đủ rộng để dễ tháo mủ cho hết song tránh phá vỡ hàng rào tự vệ của cơ thể.
4. NHỌT: Nhọt là một ổ viêm nhiễm khu trú và đơn độc, thường do tụ cầu khuẩn vàng gây bệnh.
Quan sát một nhọt thấy có một ổ viêm mủ ở da, tại trung tâm ổ viêm có một cái lông, xung quanh lông có mủ màu vàng
Khi ổ mù hình thành xong, đã "chín" có chỉ định chích nhọt. Khi chích nhọt cần nhẹ nhàng lấy cụm viêm ở quanh lông, đó là "ngòi". Khi hết ngòi nhọt sẽ chóng khỏi.
5. CỤM NHỌT
Cụm nhọt là một ổ viêm nhiễm tại một vùng da, gồm nhiều nhọt, mỗi nhọt là một cái lông, cũng thường là do tụ cầu vàng gây bệnh. Như vậy nhìn cụm nhọt thường thấy ở sau gáy (có tên là hậu bối) sau lưng, những nơi hay bị cọ sát và dễ viêm nhiễm.
Quan sát cụm nhọt thấy một vùng da bị thâm nhiễm viêm, có kích thước chừng lòng bàn tay, nề cứng, sưng đỏ. Trên vùng viêm, quan sát cũng thấy các lỗ chân lông đều thành nhọt một ổ mủ nhỏ màu vàng ở tâm ổ mù có một cái lông. Nhiều nhọt nằm lân cận nhau tạo thành cụm nhọt.
Điều trị kháng sinh và chờ cụm nhọt " chín" thì dùng dao điện rạch cụm nhọt theo hình chữ thập và cắt bỏ các tổ chức bị hoại tử.


6.VIÊM TẤY LAN TOẢ: Là tình trạng viêm nhiều của tổ chức liên kết lỏng, tổ chức này nằm ở dưới da ở dưới cân, ở các vách liên cơ. ổ viêm không được khu trú như áp xe mà lan toả. vì vậy bênh nặng hơn là áp xe.
Nơi hay gặp viêm tấy lan toả nhất là ở bàn tay, tại một chỗ kẽ ngón. Ổ viêm lan toả làm hai ngón xoè rộng ra. Khám kỹ các ngón vẫn cử động gấp ruỗi được nhẹ vì ổ duỗi viêm nằm ngoài bao hoạt dịch.
Còn gập viêm tấy lan toả do vi khuẩn yếm khí (xem sau)
7. UỐN VÁN: Uốn ván là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính do trực khuẩn Clostridium tetani gây co giật. Đây là trục khuẩn yếm khí Gram (+) hình giống que diêm.
Trực khuẩn này xâm nhập vào vết thương tiết ra các ngoại độc tố, ngấm vào thần kinh.
Uốn ván có thời gian nung bệnh chừng 4-14 ngày, càng ngắn càng nặng. Sau đó bệnh phát với 3 biểu hiện chính:
- Khít hàm
- Cười nhăn
- Cơn cong ưỡn thân mình.
Bệnh nặng bệnh nhân bị ngạt thở do cơ hầu, cơ hô hấp.
Với tiêm chủng mở rộng trong đó có ngừa uốn ván, bệnh đã được thanh toán ở các nước phát triển.
8. HOẠI THƯ SINH HƠI
Là một bệnh nhiễm khuẩn yếm khí, phổ biến nhất là Clostridium Perfringens gây ra. Các vi khuẩn yếm khí này có ở khắp nơi, ở đất, phân, xác chết ở ngay quần áo và da người, rất phổ biến (83-90%).
Vi khuẩn yếm khí rất phổ biến sống bệnh nhiễm khuẩn yếm khí chỉ thấy ở 1-2% tổng số vết thương có lẽ vì có gặp điều kiện tốt bệnh mới phát triển.
Điều kiện đó là các vết thương dập nát ở vùng có nhiều cơ (mông, đùi...) nhất là có gãy xương kèm theo hoặc bị thiếu máu mới do đặt ga rô do bó bột chặt chèn ép. Bệnh hay thấy khi vết thương được xử trí quá muộn hay cắt lọc kém để lại nhiều ngõ ngách, dị vật.
Có các thể lâm sàng sau đây:
- Thể nhiễm khuẩn yếm khí lan rộng theo các tổ chức liên kết nằm giữa các khối cơ.
- Thể hoại thư sinh hơi với hoại tử cơ năng.
Biểu hiện lâm sàng như sau:
Đứng gần bệnh nhân đã ngửi thấy mùi thối khẳn đặc biệt, như mùi cóc chết.
Mở băng xem các vết thương khô, màu cơ tái như thịt luộc.
Ấn thấy lép bép hơi ở dưới da.
Bệnh nhân trong tình trạng nhiễm độc, vùng lép bép hơi lan nhanh lên gốc chỉ rồi đến cả thân mình.
Cần mổ cấp cứu: Mở rộng vết thương và rạch rộng da và cân lên trên theo vùng có lép bép hơi.
Nếu bệnh chỉ lan theo tổ chức liên kết lỏng là nhẹ: rạch rộng để hở có thể khỏi.
Nếu bệnh gây hoại tử các khối cơ phải nhanh chóng cắt cụt chi.

Các Bài Viết Cùng Chuyên Mục

-