Home

TRIỆU CHỨNG HỌC CỘT SỐNG - Bệnh Đau Lưng

TRIỆU CHỨNG HỌC CỘT SNG

1. KHÁM CỘT SNG: Khi khám cột sống cần khám trong một phòng đú rộng và đù sáng. Thấy thuốc đứng cách xa  bệnh nhân. Bệnh nhân đứng đối diện với nguồn sáng. Thầy thuốc đứng giữa bệnh nhân và nguồn sáng. Một nguồn sáng chéo làm nối các đường cong và các vùng nối. Sáng quá nhìn sẽ không rõ. Yêu cầu bệnh nhân đứng thoải mái. Bình thường khi đứng, trọng tâm co thể đi từ gai chậu trước trên đến điểm giữa bánh chè qua lồi củ xương chầy và rơi vào tâm điểm bàn chân ở đốt bàn 2.


Nhìn mức ngang của mào chậu 2 bên các độ cong sinh lý của cột sống ngực và thắt lưng tăng hay giảm, xem độ nghiêng của xương chậu? có cắng cứng cơ ở khối cơ cạnh cột sống không ?
Nhìn nghiêng, ở đoạn cột sống cong ưỡn ra trước, đến ngang mỏm ngang của đốt cổ C7 ( đốt lồi nhất ra sau) thì đến cong gù đoạn ngực. Tiếp đó, từ đốt sống ngực T12: hay T11 (sách cũ gọi là đốt lưng D12:, D11) thì sẽ bắt đầu đoạn cong ưỡn thắt lưng ra trước, đến xương cùng lại cong lồi ra sau.
Về bệnh lý cột sống, phổ biến nhất là chứng đau lưng (lumbago). Bệnh nhân có tuổi 30-60. Khi xoay vặn mình bỗng xuất hiện cảm giác có tiếng kêu "cục" rồi đột ngột đau dữ dội vùng thắt lưng cùng, đau lan ra móng. Khi khám thấy nhân đứng ngả người ở một tư thế nào đó. không dám cựa quậy. Tư thế cứng đờ đó đỡ đau hơn cả. Đau tăng lên khi cử động thân mình, khi ho hắt hơi. Khám thấy một số bắp cơ thai lưng nổi hắn rõ. Đây là một phần nhân keo bị động tác của thân mình gây lực đẩy ra sau, chui vào các khe nút bệnh lý của vòng sợi đĩa đệm, thúc vào dây chằng dọc sau có nhiều thần kinh, gây đau.
Chứng " vẹo cột sống" hay thấy ở thiếu niên học sinh. Phần nhiều là cong vẹo cơ năng do tư thế, đoạn cong thường dài và lồi sang trái như chữ C. Một số ít là vẹo cột sống bệnh lý hình chữ S. Ta vạch một đường thẳng đứng (dây dọi) từ chẩm xuống dưới, nếu đường này đi qua điểm giữa 2 mỏng thì đó là vẹo cột sống có bù trừ, đi lệch qua một bên là mất bù.
Quan sát vùng thắt lưng cùng xem thân mình có gì lệch bất thường: các u do thoát vị màng não tủy. một chỗ rậm lòng bệnh lý, một vùng da có vết sắc to hay vét đỏ... chứng báo hiệu có các dị tật xương ở sâu.
Khi bệnh nhân bước đi xem thân mình có lệch về một bên không? eo thắt lưng hai bên có đối xứng nhau không?
Yêu cầu  bệnh nhân đứng thẳng gối và cúi xuống trước, thõng tay, do khoảng cách đầu ngón xuống nền đất: xong nghiêng sang bên. cũng đo như trên.
Muốn hiện rõ dây đốt sống, ta lấy 2 ngón tay miết mạnh dọc bên hàng mỏm gai sẽ nối rõ vệt đỏ. nó chỉ cho ta rõ biến dạng cong của hang đốt sống.
Khám lúc nằm: Yêu cầu bệnh nhân nằm các tư thế  ngửa, nghiêng và sấp. Quan sát độ cong sinh lý của các đoạn cột sống, cột sống ngực cong gù ra sau. Bệnh lý ở đây như lao cột sống, dấu hiệu gù ra sau nhô lên rõ ràng. Trái lại ở đoạn thắt lưng, bình thường vốn cong ưỡn ra trước khi bị lao đốt sóng thắt lưng dấu hiệu sớm là cột sống thắt lưng thẳng ra, mất độ cong ưỡn.
Khám các cử động lúc đứng: Trước hết xem độ ngang của 2 vai. Xem hình dáng lồng ngực, xương ức có lồi ra trước hay lõm ra sau. Yêu cầu bệnh nhân cúi xuống trước nhìn từ sau lưng xem lồng ngực có cân đối hay một bên nhô lên cao. Cung sườn một bên vồng lên cao khi cúi. thấy ở bệnh cong vẹo cột sống, đó là gồ xương sườn.
2. KHÁM XQUANG CỘT SNG: Thường phim thẳng và nghiêng. Sau chấn thương, muốn hiện rõ thương tổn đốt sống cao. ví dụ nghi có thương tổn mỏm nha của C2. yêu cầu chụp phim thẳng, tư thế há mồm. Mọi nghi vấn có thương tổn mỏm nha cần yêu cầu chụp vi tính cắt lớp tập trung vào mỏm nha. Ở đốt sống đoạn giữa, lưu ý các mỏm khớp, xem có dấu hiệu trật mỏm khớp.


Muốn hiện rõ đốt sống cổ đoạn thấp C6, C7... cần chụp phim nghiêng với tư thế riêng. Hai bàn tay bệnh nhân nằm với nhau, có người phụ nắm bàn tay bệnh  nhân kéo xuống dưới chân, nhằm kéo 2 vai ra trước và xuống dưới.
Cần lưu ý bệ cao của thân đốt sống giảm dần từ dưới lên trên. Nó có một thân đốt sống thấp hơn đốt trên bị lún.
3. CÁC BỆNH LÝ CỘT SỐNG
Cột sống cổ dưới cùng có khi có mỏm ngang tiếp khớp với một đoạn xương sườn dài: đó là xương sườn cổ, một tật bẩm sinh.
Lao cột sống, một bệnh lý phổ biến hàng đầu.
Lao ở đốt sống ngực hay có áp xe lạnh, hiện ra là một bóng mờ hình thoi đối xứng chồng lên bóng mờ của tim mạch.
Ở đoạn ngực thắt lưng lao hay gây thương tổn 2-3 đốt sống với các dấu hiệu phổ biến: xương mất vôi, đốt sống xẹp hình chêm, khe khớp (đĩa gian đốt) hẹp với bờ xương nham nhở.
Ở vùng thắt lưng cùng có một số bệnh lý hay gặp.Phim nghiêng xem:
Bệnh trượt đốt sống ví dụ thân đốt sống L5 trượt ra trước so với thân đốt S1
Một bệnh lý bẩm sinh hay gặp do đau lưng ở tuổi trung niên:
- Phim thẳng: hai cung sau của đốt sống cũng không liên tục, để lại khe hở: chứng gai đôi đốt sống.
Phim thẳng: hai mỏm ngang của đốt sống thắt lưng. Phì đại rất to: chứng cùng hóa thắt lưng 5
Để phát hiện thương tổn cột sống, hai kỹ thuật mới tốt nhất là:
Chụp vi tính cắt lớp
Chụp cộng hưởng từ
4. GÃY CỘT SỐNG
4.1. Gãy cột sống đon ngực – tht lưng
Hỏi bệnh: gãy cột sống đoạn ngực - thắt lưng (T-L) hay gặp nhất. Có 3 nguyên nhân  và cơ chế khác nhau:
- Do ngã cao: đốt sống bị xẹp lún sống vững, thường không bị liệt tủy.
- Do vật nặng đổ vào lưng như sập hầm ếch, thân đốt sống bị vỡ nhiều, dễ bị liệt tủy.
-Do lực mạnh tông vào thân mình như tai nạn ô tô đâm. Cột sống bị gãy và trật.rất hay gặp liệt tủy.
Sau tai nạn bệnh  nhân thấy đau chói vùng lưng và cơ cạnh cột sống co cứng. Cởi quần áo để quan sát kỹ các mỏm gai. Khi  bệnh nhân nằm ngửa luồn tay nắn các mỏm gai và có sự co cứng khỏi cơ cạnh cột sống, sau đó nhẹ nhàng lật nghiêng bệnh nhân để nhìn xem có sưng nề, sây sát máu tụ, co cứng cơ, một mỏm gai gồ lên hay có chỗ mỏm gai bị hẫng. Sau đó yêu cầu cử động xem có liệt tủy.
Khi bị liệt tủy. 24 giờ đầu tiên là tình trạng choáng tủy. mất hết cử động cảm giác bên dưới chỗ thương tổn sau đó cần khám thật kỹ xem có còn dấu vết gì của cảm giác hay cử động còn lại không ?. Cần yêu cầu bệnh nhân cử động đầu ngón chân và quan sát một đầu ngón chân có thể nhúc nhích nhẹ, hoặc khi yêu cầu cử động thì thấy một bó cơ nổi hằn lên. Đó là liệt tủy không hoàn toàn cần gắng sức cứu vãn tuỷ. Nếu sau 24 giờ choáng tủy mà khám thấy mất hết dấu hiệu vận động, cảm giác thì đó là liệt tuỷ hoàn toàn, khó có khả năng hồi phục.
Sau đó chụp cột sống thẳng nghiêng tập trung vào-nơi nghi gãy. Chụp vi tính cắt lớp thấy lất rõ thương tổn xương đốt sống. Chụp cộng hưởng thấy rất rõ thương tổn tủy sống. Rồi chỉ định điều trị như sau:
- Đốt sống lún xẹp đơn thuần, cột sống vững, không liệt tủy. Cố định với bó bột theo dõi ngoại trú. hướng dẫn tập cột sống.
- Đốt sống vỡ. gãy không vững đe doạ liệt tủy: Nắn bó áo bột hướng dẫn tập ngoại trú.
- Đốt sống vỡ nặng, kèm liệt tuỷ nắn cột sống, làm giường bột, thông đái chống loét do tỳ đè.
Gần đây cột sống gãy hay bất động bên trong với nẹp vít. thay cho áo lót.
Có các chỉ định mổ cấp cứu sau đây:
1. Gãy cột sống có mảnh xương rời chui vào ống tủy kèm liệt tủy
2. Gãy trật cột sống liệt tủy nắn không vào thẳng trục do-mỏm khớp gãy gài nhau.
3. Gãy cột sống có dấu hiệu liệt tủy tăng lên dần do máu tụ ngoài màng tuỷ chèn ép.
4. Gãy cột sống liệt tủy có dấu hiệu tắc khoang dưới nhện, phát hiện với nghiệm pháp Queckenstedtichockim vào tuỷ sóng dưới chỗ tác vuốt tĩnh mạch cổ hay lặn nhằm tăng áp lực nội sọ. nếu tắc khoang dưới nhện, nước não tủy chảy nhanh lên )
4.2. Gãy cột sng cổ
Gãy cột sóng cổ. nhất là ở đốt cổ thấp (C5. C6, C7) hay gặp nhất nhì sau gãy đoạn ngực- thắt lưng. Gãy xương xảy ra do các tai nạn sau đây:
- Nhảy chúc đầu xuống vũng nước cạn
- Ngồi trên ô tô.xe dừng đột ngột đầu bị cúi gập ra trước rồi bị hất ngửa ra sau. ở đoạn cổ ống tuỷ hẹp khi gãy hay bị liệt tuỷ
Liệt tuỷ cổ thấp, biểu hiện liệt hoàn toàn hai chân. liệt một phần hai tay.Mất cảm giác đến ngang vú.
Liệt cổ tuy cao. Biểu hiện liệt hoàn toàn tứ chi.


Sau chấn thương cột sống cổ. do đau khối cơ cạnh cột sống co cứng, làm cho cổ mất cử động, bệnh nhân không thể dễ dàng xoay đầu sang hai phía bên. Cần chụp Xquang để xác minh chẩn đoán.
Muốn hiện rõ các đốt sống cổ thấp nhất C6.C7 ở phim nghiêng cần yêu cầu bệnh nhân chắp hai bàn tay ở trước bụng người phụ nắm hai bàn tay kéo xuống dưới chân. Động tác này giúp kéo hai đai vai ra trước không che khuất bóng hình các đốt cổ thâp. Muốn hiện rõ mòm C2 yêu cầu chụp tư thế há mồm.
Đối với tư thế thân đốt sống chụp vi tính cắt lớp sẽ hiện rõ thương tổn : đối với tủy sống, chụp cộng hưởng từ sẽ có hình ảnh đẹp.
- Thường có các cách xử trí sau đây:
Gãy cột sống tủy không liệt tủy.
Gãy lún nhẹ: quấn cravat bột quanh cổ kiểu Schanz.
Gãy thân đốt nặng hơn, bó bột ôm đầu kiểu Minerve.vòng Halo.
Gãy cột sống có liệt tủy
Ghim đinh Steinmann vào bán ngoài sọ và lắp móng ngựa, kéo liên tục.
Cố định xương bên trong với nẹp vít, kèm mở mảnh bên khi có chỉ định.
Chỉ định mổ cấp cứu như sau:
Gãy có mảnh xương rời chui vào ống  tủy.
Gãy trật khớp nắn không vào (do gài mỏm khớp gãy)
Liệt tủy tăng dần ( thường do máu tụ ngoài màng cứng chèn ép)
Liệt tủy kèm dấu hiệu Queckenstedt dương tính: có các khoang dưới nhện.
Gãy cổ liệt tuỷ tiên lượng nặng, nhiều bệnh nhân không qua được 9-10 ngày trong bệnh cảnh sốt cao, suy thở.

Các Bài Viết Cùng Chuyên Mục

-