Home

THƯƠNG TỔN CƠ BẢN- PHÂN LOẠI THƯƠNG TỔN - Bệnh Da Liễu

MỤC TIÊU

1. Nêu được các loại thương tổn cơ bản tiên phát của bệnh ngoài da.

2. Mô tả được những đặc điểm của các thương tổn cơ bản tiên phát.

3. Nêu được các loại thương tổn cơ bản thứ phát.

4. Mô tả được những đặc điểm của các thương tổn cơ bản thứ phát.

1. ĐẠI CƯƠNG THƯƠNG TỔN CƠ BẢN

Trong thực hành khám bệnh ngoài da, các thương tổn cơ bản được xem như triệu chứng học thực thể. Dựa vào đó để chẩn đoán xác định một bệnh ngoài da, đồng thời để phân loại, phân biệt những bệnh ngoài da có dấu hiệu thực thể giống nhau hoặc gần giống nhau.

Nếu chỉ dựa vào lời kể của bệnh nhân về bệnh sử và tiền sử mà không biết được loại thương tổn cơ bản và đặc điểm của chúng, không thể có một chẩn đoán xác định bệnh ngoài da một cách chính xác. Xác định thương tổn cơ bản được xem là cốt lõi trong quá trình thâm khám bệnh ngoài da.

Có hai loại thương tổn cơ bản:

- Thương tổn cơ bản tiên phát

- Thương tổn cơ bản thứ phát

2. NHỮNG THƯƠNG TỔN CƠ BẢN TIÊN PHÁT

Các thương tổn cơ bản tiên phát là thương tổn:

2.1. Các thay đổi màu sắc da

Những thay đổi màu sác da còn gọi là các dát (Tache; Macule). Đó là những thương tổn phẳng trên mặt da, không nổi lên mặt da cũng không thâm nhiễm. Các loại dát:

- dát đỏ

dát đỏ có màu hồng hoặc màu đỏ, mất đi khi ấn kính, bằng phẳng với mặt da. Kích thước thất thường, hình tròn bầu dục, hoặc hình đa diện.

Dát đỏ do hiện tượng giãn mạch gây ra.

thương tổn dát

Thường do viêm nhiễm trên da. Thí dụ: dào bản giang mai II; sỏi; rubcole (rubella); ban đỏ do dị ứng thuốc.

Các hình thái lâm sàng của dát đỏ:

+ Dát đỏ dạng sỏi.

+ Dát đỏ dạng đào ban như dào ban giang mai II.

+ dát đỏ dạng tinh hồng nhiệt.

+ Đỏ da toàn thân.

- Dát mạch máu

Dát được tạo thành do giãn mạch ở trung bì (chân bì). Dát này có thê do mác phải hoặc bắm sinh. Cách xác định: ấn kính mạnh sẽ mất màu. Nêu thôi không ấn kính một cách từ từ sẽ dần dần tái hiện lại giãn mạch.


- Dát xuất huyết

Dát xuất hiện do hồng cầu thoát ra ngoài mạch máu. Dát xuất huyết sẽ dần dần hư biến qua các giai đoạn: bắt dầu màu hồng, sau đó màu dỏ thẫm. màu xanh rồi màu vàng và cuối cùng biến mất. Kích thước ≥ 2 mm. hoặc thành các chấm như hạt tấm, hạt đỗ. Cách xác định: ấn kinh không làm dát mất màu.

- Dát thâm

Dát thâm là một thương tổn da thẫm màu. Màu dát thâm có thể thay đổi từ màu nâu (màu cà fê sữa) như dát thám trong bệnh Recklinghausen; tàn nhang; bệnh phong; hoặc màu đá đen (Macure ardorsée) như trong bệnh bớt sắc tố bẩm sinh, hồng ban cố định nhiễm sác. bệnh Addison.
- Dát mất sắc tố (dát trắng) như bạch biến, bạch tạng.



2.2. Những thương tổn lỏng

Thương tổn lòng là một túi phồng lên của thượng bì, trong đó chứa dịch. Các thương tổn lóng gồm có:

- Mụn nước (vesicle)

Kích thước 1 - 2 mm đường kính, trong chửa nước. Mụn nước có thể nằm trên nền da bình thướng (rôm) hoặc nằm trên nền da đỏ. Cách xác định: nói chung xác định một thương tồn là mụn nước không khó. Tuy vậy để biết xem có đúng là mụn nước hay không ta lấy kim tù đầu chọc vào sẽ thấy nước thoát ra ngoài. Mụn nước gặp trong các bệnh: rôm, chàm, tổ đỉa, nấm. Herpes...

- Bọng nước (Bulla)

Thương tổn tà bọng nước

Bọng nước là túi phồng lên của thượng bì, trong chứa nưỏc. Kích thước bọng nước thường từ 1 - 2 em đường kính. Hình tròn hoặc bán cầu. Bọng nước có thể chứa huyết thanh, huyết thanh lẫn mủ. hoặc máu. Bọng nước có thể nằm ở dưới thượng bì như bọng nước trong bệnh Pemphigoide hoặc nằm ở trong thượng bì như Pemphigus vulgaris. Ngoài bọng nước ra còn có một thuật ngữ nữa là Phlyctène (nốt phồng nước) nhằm chỉ một bọng nước lớn hơn bọng nước (có thể 3 - 4 cm).

- Mụn mủ (pustule)

thương tổn là mụn mủ- sẩn

Mụn mủ là một túi phồng trong chứa mủ. Mụn mủ có thể nằm ở dưới lớp sừng hoặc dưới thượng bì. Mụn mủ có thể khu trú ở nang lông như trứng cá mủ, viêm nang lòng, hoặc không nằm ở nang lông như vảy nến thề mủ, mụn mủ dưới lớp sừng (pustulose sous - cornée) như mụn mủ dưới lớp sừng Snedden Wilkinson, mụn mủ dạng đậu mùa; Eczema dạng Herpes
.
2.3. Những thương tổn chắc

- Sẩn (papule)

+ Sẩn là một thương tổn chắc, nổi gờ lên mặt da, kích thước < 1 cm.

+ Sẩn có thể nằm ở thượng bi nhưng không nằm ở nang lông như hạt cơm phảng, hoặc ở nang lông như sẩn của bệnh phấn đỏ chân lông.

+ Sẩn có thể nằm ở trung bì kèm theo phù như sẩn mày đay; sẩn nằm ở trung bì do rối loạn chuyển hóa các chất như sẩn của bệnh rối loạn chuyển hóa bột (Lichen amyloide); rối loạn chuyển hóa chất nhàv (mucinose); sẩn ó trung bi do tăng sinh lành tính như sẩn giang mai II, do tăng sinh ác tính như sẩn của ung thư biểu mô đáy.

+ Sẩn nằm ở trung bì và thượng bì như sẩn trong bệnh Lichen phẳng.

- Cục / hòn (nodule)

Cục (nodule) là một thương tổn chắc, hình tròn, nổi gờ lên mặt da; kích thước < lcm, nằm ở trung bì, hạ bì. Nhiều bệnh ngoài da có thương tổn là cục như u xơ, u hắc tố (melanoma), u lympho (lymphoma), viêm mao mạch cục, dị ứng cục Gougerot, hồng bản nút; viêm nút quanh động mạch, sẩn cục.

thương tổn cục

- Cục (Tubercle)

Cục là thương tổn chắc nổi giờ lên mặt da, do thâm nhiễm tế bào ở trung bì nông hoặc trung bì sâu. Có nhiều bệnh da có thương tổn củ như: củ giang mai III; Lupus lao: Phong củ; Sarcoides...

- Sùi (vegetation)

Sùi là u của tổ chức nhú. Thương tổn sùi xuất hiện do tăng sinh lớp nhú của thượng bì và thâm nhiễm bạch cầu da nhân ở trung bì. Có nhiều bệnh da có thương tổn sùi như viêm da mủ sùi; sùi mào gà do HPV; hạt cơm: Pemphigus sùi....

- Dày sừng (keratosis)

Dày sừng là một thương tổn khô. Một số bệnh dày sừng như mát cá, chai chân, dày da lòng bàn tay, bàn chân (keratodermie palmo - plantaire).

- Nút (noueur)


Nút là một thương tổn chắc hơi nổi cao trên mặt da, bề mặt màu đỏ hoặc bình thường, do thâm nhiễm tế bào ở trung bì, hạ bì. Nút có kích thước bằng hạt ngô, hạt dậu; ấn vào thấy đau. Các bệnh da có thương tổn nút như: hồng bản nút (do lao, do phong, do liên cầu, do thuốc); viêm nút quanh động mạch; bệnh Sarcoide (bệnh B.B.S).


- Gôm (gomma)


Gôm là một thương tổn chắc nôi gờ lên mặt da kích thước bằng quả táo hoặc lớn hơn. Gốm là kết quả thâm nhiễm tế bào ở lớp trung bì, hạ bì. Gôm tiến triển theo các giai đoạn: cứng, mềm, vỡ mủ, loét, lên sẹo.

Các bệnh da có gôm: gôm lao, gôm giang mai III, gồm nấm Sporotrichose.

3. NHỮNG THƯƠNG TỔN CƠ BẢN THỨ PHÁT

Các thương tổn cơ bản thứ phát là thương tổn đã bị biên dạng trong quá trình bệnh lý, do hậu quả của bệnh hoặc do điều trị tạo nên. Các thương tổn cơ bản thứ phát bao gồm:

3.1. Vảy da (scale)

thương tổn là vảy da

Đó là những lát mỏng của lớp sừng tách ra từ thượng bì, hoặc do rối loạn sừng hóa.

Vảy da có thể là một hiện thượng sinh lý binh thường của da (bong vảy da trẻ sơ sinh).

Nhưng cũng có thể là bệnh lý làm cho lớp sừng bong ra quá mức.

- Vảy da có thể nhỏ như bụi phấn rất dễ bong như bệnh lăng beng. viêm da dần. vảy phấn đỏ chân lông, vảy phấn hồng Cìibcrt.

Vảy da bong ra như mồi, dính như xà cừ, bong ra thành mảng trong bệnh vảy nến.

- Vảy da trông như vảy đồi mồi hoặc như vảy cá trong bệnh vảy cá.

3.2. Vảy tiết (crust)

Vảy tiết do các chất xuất tiết (mủ, huyết thanh, máu) khô lại mà thành. Cậy vảy tiết ra dưới là một vết loét khi khỏi để lại sẹo, hoặc vết trợt khi khỏi không để lại sẹo. Các loại vảy tiết:

- Vảy huyết thanh có màu ngà ngà như vảy tiết trong bệnh chàm.

Vảy mủ có màu vàng hoặc màu như mật ong như vảy tiêt trong bệnh chốc.

Vảy máu có màu thẫm hoặc nâu đen như vảy tiết trong bệnh viêm da mủ hoại tủ, viêm mao mạch hoại tủ

Vảy máu + mủ có màu đen xen lẫn màu vàng.

Hình dạng của vảy tiết do hình dáng của thương tổn lỏng quyết định. Có thể gặp vảy tiết thành dài, hình tròn, bầu dục. hoặc hình xoáy tròn như vảy ốc. Rất nhiều bệnh ngoài da có vảy tiết như chốc, zona, chàm, vảy nến thê mủ...

3.3. Xước da (excoriation) do cào gài hoặc sau một chấn thưởng nông mất di một phím thượng bì. Khi khỏi, vết xước không để lại sẹo (thường đề lại một vệt mất hoặc đậm sắc tố).

3.4. Vết trợt (erosion)

Vết trợt là thương tổn rất nông, mất đi một phần thượng bì như sàng giang mai, Herpes: khi khỏi vết trợt không để lại sẹo.

3.5. Vết nứt (fissure)

Nứt lòng bàn tay, bàn chân, nứt ở nếp gấp khoeo, nếp gấp cổ chân, nứt mép trong bệnh viêm da liên cầu.

3.6. Vết loét (Ulcer)

vết loét được tạo thành do mất da đến trung bì hoặc hạ bì, khi khỏi để lại sẹo. Có rất nhiều bệnh ngoài da có thương tổn loét như loét hạ cam, loét hoại tử, loét do giãn tĩnh mạch, loét lao, loét sâu quảng, loét lỗ đáo...

thương tổn vết loét

3.7. Teo da (atrophy)

Teo da do thượng bì hoặc trung bì nông bị mỏng đi, phẳng có ánh sà cừ đôi khi trông thấy mạng lưới mao mạch dưới da. Nguyên nhân của teo da do sự biến đổi (thoái hóa) của tổ chức hên kết hoặc tố chức đàn hồi. các bệnh có teo da như:

- Teo da sau tiêm corticoid

- Teo da trong bệnh viêm da dầu chi teo (bệnh Pick - Herxheimer)

- Lichen xơ teo (Lichen Sclero - Atrophique), teo da trong bệnh lá lao sẩn hoại tử.


3.8. Đốm da (poikiloderma)

Đốm da là đám da có nhiều màu sắc phối hợp với teo da, rối loạn sắc tố và giãn mạch. Ví dụ: Poikilo - dermatomyosite, viêm da do quang tuyến mạn tính.

3.9. Sẹo (Cicatrice)

Một thương tổn mất da đến trung bì và hạ bì, khi lành sẽ để lại sẹo. Sẹo có thể bằng phẳng với mặt da, thấp so với mặt da (sẹo teo), nổi cao lên mặt da (sẹo quá phát, sẹo lồi).


3.10. Xơ (Sclerosis)

Xơ là một thương tổn da cứng, không thể làm thành nếp da được do collagen ở trung bì dặc lại. Thí dụ: xơ cứng bì khu trú hoặc tỏa lan, xơ cứng da đầu chi.

3.11. Lichen hóa (Lichénification)

Từ 2 - 3 thập niên về trước Lichen hóa được dịch ra tiếng Việt là hàn cô trâu. Ngày nay thuật ngữ Lichen hóa xem như đã được Việt hóa. Thuật ngữ Lichen hóa nhằm chỉ một đám da dày, thãm màu, thâm nhiễm, các nếp da nổi rõ có ngứa mạn tính, do cào gãi lâu ngày. Thí dụ chàm mạn tính, đỏ da toàn thân liên cầu.

4. NHỮNG ĐIỂU CHÚ Ý KHI MÔ TẢ MỘT THƯƠNG TỔN CƠ BẢN

4.1. Sự sắp xếp của thương tổn

Các thương tổn cơ bản có thể sắp xếp xếp thành từng dải, từng vệt, thành hình nhẫn, hình vòng cung, hình đồng xu, hình xoáy, hình rắn bò, hình vằn vèo. thành máng, thành đám. Khi mô tả các thương tổn nên mô tả dó là loại gì, chắc hay lỏng, kích thước, cách sắp xếp xếp, bờ đám thương tổn có đều hay không đều, ranh giới giữa da lành và da bệnh có rõ hay không rõ.

mô phỏng bề mặ của sẩn

4.2. Vị trí của thương tổn

Điểu này rất quan trọng. Có những bệnh da chỉ xuất hiện ở một vùng da nhất định. Thí dụ rám má chỉ xuất hiện ở mặt. Viêm da dầu hay xuất hiện ở hai bên rãnh mũi má, hai cung mày, hoặc trên đầu mà không xuất hiện ở bàn tay, bàn chân, vảy nến thường xuất hiện ở chỗ tỳ đè, mặt duỗi hai chi, có tính chất đối xứng...

TỰ LƯỢNG GIÁ

1. Nêu các thương tổn cơ bản tiên phát bệnh ngoài da?
2. Nêu các thương tổn cơ bản thứ phát bệnh ngoài da?

Các Bài Viết Cùng Chuyên Mục

-