Home

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ NẤM EPIDERMOPHYTIE - NGUYÊN NHÂN - CHẨN ĐOÁN - Bệnh Da Liễu

NẤM EPIDERMOPHYTIE

Nấm epidermophytie là gì?
Nấm epidermophytie là một bệnh ở các lớp nông của da, kẽ da và móng, nhưng không có tổn thương ở lông và tóc.


Được chia làm hai thể lâm sàng
-   Epidermophytie ở các kẽ lớp hay còn gọi là nấm bẹn.
-   Epidermophytie ở chân.
I.   NẤM BẸN
Tác nhân gây bệnh là Epidermophyton inguinale và floccosum.
Thường lây ở các nhà tắm công cộng do dùng chung bể tắm, hoặc do dùng chung quần áo, chăn chiếu với người bệnh.
Bệnh hay gặp ở người nhiều mồ hôi, người béo, bệnh nhân đái đường.
1.   Lâm sàng
Tổn thương thường khu trú ở ben, mặt trong đùi, mu, nách, có khi ở xung quanh thắt lưng và kẽ dươi vú.
Bắt đầu là những chấm đỏ, viêm, có vẩy như bèo tấm, dần lan ra xung quanh thành một mảng hình tròng hoặc bầu dục, bề mặt đỏ, bờ hơi gò cao, trên bờ có nhiều mụn nước và vẩy da. Dần dần các mảng liên kết với nhau thành một mảng lớn có nhiều vòng cung, giữa nhạt màu và hơi xẹp xuống.
Bắt đầu thường cấp tính, sau trở thành kinh diễn.
Có ngứa ít.
Chẩn đoán thường dựa vào hình ảnh lâm sàng điển hình và xét nghiệm tìm thấy nấm trong vẩy lấy ở tổn thương.
Cần chẩn đoán phân biệt với erythrastna và viêm kẽ do candida.
2.   Điều trị
Tuyệt đối không được dùng dao hoặc một vật cứng để cạo vào tổn thương.
Ở giai đoạn cấp hoặc khi bị chàm hoá nên làm dịu da bằng các dung dịch Jarisch, dung dịch acid boric 5% hoặc nitrat Ag 0,25%.
Sau đấy dùng các thuốc bong vẩy và các thuốc chống nấm như nitrofungin, mycoseptin, mỡ gricin hoặc các thuốc chống nấm mới như kem Fazol, mỡ clotrimazol, kem Nizoral (ketoconazole), kem Trosyd, kem Pevaryl v.v.
Để tránh tái phát thường sau khi khỏi bệnh nên bôi tại vùng có tổn thương dung dịch cồn iod 2% ngày một lần hoặc 2 ngày một lần trong vòng 1 -2 tuần.
II.   EPIDERMOPHYTIE Ở CHÂN
Bệnh rất phổ biến ở các vận động viên bơi lội, ở công nhân hầm lò.
Tác nhân gây bệnh là Epidermophyton mẹntagrophyte và in- terdigitale.
Bệnh rất lây nhất là ở nhà tắm công cộng, các bể bơi, hoặc do dùng chung giầy, tất, ủng...
Các sợi nấm và bào tử rất nhiều trong các vẩy lấy ở thương tổn.
Bệnh thường gặp ở những người hay ra mồ hôi chân và có các ngón chân khít vào nhau, dày dép chật gây sướt da và nhất là có thay đổi hoá học trong thành phần của mồ hôi làm cho pH da trở nên kiềm.


1.   Lâm sàng và tiến triển
Có 4 hình thái lâm sàng
a.   Hình thái bong vẩy ở lòng bàn chân
Vẩy bong từng đám nhỏ hoặc thành mảng lớn.
Ngứa nhẹ, liên tục, nhưng nhiều khi bệnh nhân không biết và đây là những nguồn lây bệnh cho người khác. Càng ngày bệnh càng nặng hơn và có thể chuyển sang hình thái tổ đỉa.
b.   Hình thái viêm kẽ
Có thể tiên phát hoặc thứ phát sau hình thái bong vẩy.
Thương tổn bắt đầu từ các kẽ ngón chân, hay gặp nhất là kẽ 3 - 4, rồi lan sang các kẽ khác, lan đến dưới các ngón chân và lên cả mu chân. Trong các kẽ có các vết nứt, da xung quanh vết nứt mủn trắng, chảy nước và ngứa nhiều.
Bệnh tiến triển dai dẳng, đỡ đi về mùa đông, nặng lên về mùa nóng. Thường kèm theo nhiễm khuẩn thứ phát gây nên viêm quầng, hoặc viêm bạch mạch kinh diễn và viêm tắc tĩnh mạch.
c.   Hình thái tổ đỉa
Lòng bàn chân nổi những đám mụn nước sâu nhỏ bằng đầu đanh ghim. Các mụn nước liên kết với nhau thành các bọng nước lớn. Bệnh có thể lan lên rìa bàn chân.
Ngứa và đau, có bội nhiễm thứ phát các mụn nước trở thành đục, vỡ ra và có thể kèm theo viêm bạch mạch và viêm hạch.
d.   Hình thái viêm móng
Bắt đầu từ bờ tự do hoặc bờ bên của móng xuât hiện những chấm trắng. Dần dần móng sẽ dày lên, vàng bẩn, dễ gãy. Dưới móng có dày sừng. Có khi móng lại mỏng đi vì bóc tách khỏi nền móng.
Chẩn đoán xác định thường dựa vào hình thái lâm sàng và xét nghiệm soi tươi tìm thấy sợi nấm.
2.   Điều trị
Thay đổi tuỳ theo hình thái lâm sàng và tiến triển của bệnh.
-   Ở giai đoạn cấp tính điều trị như chàm cấp: đắp dung dịch ơarisch, dung dịch thuốc tím 1/10000, nước muối đẳng trương và các loại kem, thuốc hồ như kem kẽm, hồ Brocq.
-   Qua đợt cấp mới dùng các thuốc chống nấm như mỡ Griciii, mỡ clotrimazol, kem Fazol, kem Nizoral, kem Pevaryl, kem Trosyd.
Toàn thân lúc đầu cũng dùng các thuốc kháng histamin tổng hợp, sinh tố C, calcium, uống, Gricin với liều 10mg/lkg cơ thể trong 3 - 4tuần hoặc Nizoral 200mg/ngày trong 3 - 4 tuần hay Sporal 100 - 200mg/ngày trong 3 - 4 tuần.
Nếu có viêm móng nên bóc móng và dùng Gricin 3 - 6 tháng hoặc Nizoral 100mg/ngày trong 3 -4 tháng, hoặc Sporal 100mg/ngày trong 3 - 6 tháng.

aaa

Các Bài Viết Cùng Chuyên Mục

-