Home

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN DO PHẾ CẦU - NGUYÊN NHÂN - CHẨN ĐOÁN - Nhiễm Trùng Nhiễm Độc Ký Sinh Trùng

NHIỄM KHUẨN DO PHẾ CẦU
Nhiễm khuẩn do phế cầu là gì ?
Các nhiễm khuẩn do phế cầu là một vấn đề quan trong đối với sức khoẻ chung vì tỷ lệ mắc bệnh và tử vong: chừng 1,5% bệnh nhân nhập viện, 8% tử vong.


Trong một số vùng (Nam Phi, Mỹ, Tây Ban Nha) tỷ lệ % các chủng phế cầu kháng với penicillin tăng đều đặn vượt 10%, ở Pháp nhậy cảm với penicillin là nguyên tắc, tuy nhiên, một tỷ lệ tử vong chừng 20-60% tuỳ theo bệnh lý và cơ địa. Do đó cần phòng bệnh bằng vacxin chống phế cầu phôi hợp với kháng sinh phòng bệnh kéo dài bằng penicillin đối với một số người có nguy cơ cao.
I.TÁC NHÂN GÂY BỆNH NHIỄM KHUẨN DO PHẾ CẦU
Phế cầu hay Streptococcus pneumoniae là một song cầu khuẩn gram dương, khác với các streptococcus khác là có một vỏ polysac- charid chịu trách nhiệm về khả năng gây bệnh của mầm bệnh chống lại thực bào. Các kháng nguyên polysaccharid cho phép xếp loại các phế cầu thành 84 nhóm huyết thanh và tạo thành cơ sở của tiêm phòng. Khả năng gây bệnh của chúng chủ yếu liên quan đến khả năng sinh sản và đến cấu trúc lý hoá của vỏ.
II.DỊCH TỄ HỌC NHIỄM KHUẨN DO PHẾ CẦU
Có những trường hợp lẻ tẻ xảy ra trên toàn thế giới, nhất là về mùa đông và mùa xuân. Tuỳ theo kết quả điều tra, có từ 5 đến 70% số người mạnh khoẻ có phế cầu trong đường hô hấp.
Nhiễm phế cầu có thể thấy ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên tỷ lệ mắc bệnh cao:
-Ở người có tuổi > 65 tuổi và trẻ dưới 2 tuổi
-Trên các cơ địa đặc biệt: suy hô hấp mạn tính, suy tim, hội chứng thận của trẻ em, đái tháo đường không phụ thuộc insulin, xơ gan.
Trong nhiễm khuẩn HIV, giai đoạn phế cầu tham gia như một mầm bệnh.
-Ở những người cắt lách: nguy cơ các nhiễm phế cầu càng lớn nếu là một người trẻ và cắt lách, bất cứ nguyên nhân nào: cắt lách vì bệnh máu (bệnh Hodgkin, ban xuất huyết, tiểu cầu giảm không rõ căn nguyên, thiếu máu tan huyết) hoặc chấn thương; cắt lách chức năng đặc biệt là ở các hồng cầu hình liềm đồng hợp tử.
-Người ta có thể nói đến u tuỷ và tất cả các suy giảm miễn dịch.
Tỷ lệ tử vong của các nhiễm phế cầu còn cao: 20-60% nếu là vãng khuẩn huyết, viêm màng não 30%
Viêm phổi do phế cầu: 20%
Không có lách: 50%
Rất trầm trọng ở trẻ nhỏ, người già và ở những người bị suy giảm miễn dịch và những người không có lách.
III. LÂM SÀNG NHIỄM KHUẨN DO PHẾ CẦU
A.NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP
Viêm phổi do phế cầu chiếm 50% viêm phổi do vi khuẩn.
1.Viêm phổi thuỳ cấp
Khởi đầu đột ngột, với các dấu hiệu toàn thân và chức năng: hội chứng viêm phổi khu trú khi thăm khám thực thể, mờ đồng đều 1 thuỳ hoặc 1 phân thuỳ, giới hạn rõ.
Mặc dù kháng sinh liệu pháp đúng đắn, tiên lượng càng nặng nếu có 1 hoặc nhiều tạng phối hợp, chẩn đoán chậm, từ ngày thứ 5  tổn thương nhiều thuỳ, cấy máu dương tính, bạch cầu hạ <1000/mm3 hoặc rất cao > 25.000/ mm3
2.Viêm phế quản phổi
Đặc biệt ở người suy hô hấp hoặc sau cúm (người già), sởi. Ho, khạc đờm và sốt, về X quang có đặc trưng là những đám mờ như bông ở hai bên phổi, có hoặc không có phản ứng màng phổi. Viêm phế quản do phế cầu không có một đặc hiệu lâm sàng nào. Áp xe phổi hiếm, đặc biệt biến chứng của một viêm phổi không điều trị hoặc một nhiễm khuẩn huyết, báo hiệu bằng tăng bạch cầu đa nhân > 20.000/ mm3.Viêm màng phổi trong thể tiên phát rất hiếm.

B.NHIỄM KHUẨN KHU VỰC TMH
Viêm họng, viêm hạch hạnh nhân: ít gặp, rất nhậy cảm với bêtalactamin
Lan tại chỗ đặc biệt ở trẻ em là nguồn gốc viêm tai, viêm xoang, viêm xương chũm (phế cầu chiếm 20-30% các căn nguyên vi khuẩn, hàng thứ hai sau H.influenzae), nặng do các biến chứng nhiễm khuẩn huyết và đặc biệt viêm màng não.
C.NHIỄM KHUẨN NÃO - MÀNG NÃO
Viêm màng não do phế cầu, thường thứ phát sau chấn thương đáy sọ, một ổ TMH kế cận (viêm tai, viêm xoang, viêm xương chũm), sau một nhiễm khuẩn huyết, đặc biệt ở người cắt lách. Khởi đầu dữ dội, các dấu hiệu thần kinh trung ương thường gặp. Tỷ lệ tử vong cao (30%), các di chứng thần kinh hay gặp và nặng.
D.NHIỄM KHUẨN HUYẾT
Thường thứ phát sau một viêm phổi, hay biến chứng di bệnh nhiều nơi, đặc biệt các màng (mãng não, khớp, phúc mạc, màng tim..)
Chúng có thể diễn biến với bệnh cảnh của một ban xuất huyết kịch phát, điều trị không kết quả, chủ yếu là những người cắt lách và suy giảm miễn dịch.
E.CÁC NHIỄM KHUẨN HIẾM
Viêm phúc mạc tiên phát gặp ở trẻ em, xơ gan, hoặc còn biến chứng một hội chứng thận, với bệnh cảnh viêm phúc mạc cấp cấy máu dương tính.
Điều trị chủ yếu nội khoa
IV. CHẨN ĐOÁN NHIỄM KHUẨN DO PHẾ CẦU
-Phân lập mầm bệnh cấy máu, nước não tuỷ, mủ viêm tai, viêm xương, chất đờm...
-Phát hiện các kháng nguyên polysaccharid bằng miễn dịch hoặc ngưng kết các latex nhậy cảm, từ máu, nước não tuỷ, chất khạc đờm, nước tiểu, cho phép sau vài phút đến vài giờ chẩn đoán gián tiếp đôi khi rất ích lợi nếu nhiễm khuẩn đã được điều trị.
Nhưng các kỹ thuật này không đặc hiệu và cho kết quả nhầm lẫn.
V.ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN DO PHẾ CẦU
-Penicillin G (CMI là 0,01mcg/ml) cùng như ampicillin hoặc amoxycillin (CMI như vậy) càng ngày càng thấy có nhiều chủng kháng thuốc.
-Trường hợp dị ứng với penicillin, người ta có thể dùng hoặc cephalosporin thế hệ 3, ít có phản ứng dị ứng chéo hoăc dùng macrolid như erythromycin (50mg/kg/24h) biết rằng 15 đến 20% các chủng kháng với macrolid.
-Trường hợp nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não: penicillin G cho tĩnh mạch trực tiếp cứ 3 giờ, liều 20-40 triệu đơn vị/ngày ở người lớn, 500.000 đơn vị/kg ở trẻ em.
-Viêm phổi, viêm tai giữa liều thấp hơn 4-15 triệu đơn vị/ngày tuỳ theo nặng, nhẹ và cơ địa.
-Trường hợp nhậy cảm với penicillin kém (CMI giữa 0 1 và lmcg/ml) cho cephalosporin thế hệ 3 tác dụng đều hơn đặc biệt trong điều trị các viêm màng não.
-Trường hợp kháng thực sự (CMI ≥lmcg/ml). Kháng sinh tốt nhất là vancomycin.

VI. PHÒNG BỆNH NHIỄM KHUẨN DO PHẾ CẦU
Trong một số trường hợp dùng vacxin phối hợp với penicillin dài ngày.  
Vacxin, typ polysaccharid vi khuẩn gồm:
Các kháng nguyên polysaccharid của 23 nhóm huyết thanh thường gặp trong bệnh lý, tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, cho tỷ lê bảo vệ chừng 80%.
Chỉ định vacxin
-Ở người lớn
+ Bệnh mạn tính tim mạch hoặc hô hấp
+ Người không có lách, bệnh Hodgkin, đa u tuỷ xương, xơ gan, ghép thận, đái tháo đường không phu thuộc insulin
+ Ở người trên 65 tuổi
-Ở trẻ > 2 tuổi: cắt lách, hội chứng thận hư, suy giảm miễn dịch
-Trường hợp đặc biệt:
+ Nguy cơ nhiễm phế cầu cao ở phụ nữ có thai, cần dùng vacxin trước khi có thai.
+ Trường hợp cắt lách hoá trị liệu hoặc radio trị liệu, ít nhất 15 ngày trước lúc điều trị.
+ Trong một số chỉ định (cắt lách, bệnh Hodgkin) phòng bệnh kéo dài, đôi khi cả đời, penicillin chậm (Exten- cilline) phối hợp với tiêm chủng.
hử nghiệm lâm sàng có kiểm

Các Bài Viết Cùng Chuyên Mục

-