Home

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN BÀN TAY - NGUYÊN NHÂN, CHẨN ĐOÁN - Nhiễm Trùng Nhiễm Độc Ký Sinh Trùng


I.       ĐẠI CƯƠNG NHIỄM KHUẨN BÀN TAY

Bàn tay chỉ là một bộ phận bé nhỏ so với toàn thân, nhưng tại là cơ quan lao động chủ yếu, vận động rất tinh vi. Một di chứng nhỏ có khi lại ảnh hưởng khá nhiều tới chức năng bàn tay, do đó, khi săn sóc, điều trị một thương tổn bàn tay, chúng ta phải thận trọng hơn là đối với các thương tổn ở phần mềm khác.
Bàn tay lại rất dễ bị nhiễm khuẩn, và lại có nhiều mô mỡ, bao gân, bao hoạt dịch, nên nhiễm khuẩn dễ lan rộng, đặc biệt có nguy cơ lan lên phần trên theo bao hoạt dịch.
Ngày nay phẫu thuật bàn tay đã thành một chuyên khoa.

II.      NHIỄM KHUẨN CẤP TÍNH Ở BÀN TAY

l.        Nguyên nhân nhiễm khuẩn cấp tính ở bàn tay
Do vi khuẩn làm mủ gây ra, hầu hết thường là tụ cầu khuẩn vàng, đôi khi là liên cầu khuẩn. Vi khuẩn vào cơ thể qua các tổn thương rất nhỏ, các vết chọc do gai, kim, dầm, mảnh thuỷ tinh...
2.       Khám và chẩn đoán nhiễm khuẩn cấp tính ở bàn tay
Ngoài việc khai thác kỹ các tiền sử có liên quan tới nhiễm khuẩn hiện tại, cần chú ý đến một số bệnh như đái tháo đường một số nghề nghiệp, hoàn cảnh làm việc dễ gây các sây sát ở bàn tay.
Ngoài các dấu hiệu chung của nhiễm khuẩn tại chỗ: sưng nóng đỏ, đau có hai dấu hiệu đặc biệt cần chú ý:
- Xác định vùng đau chói khu trú sẽ cho biết rõ vùng bị viêm tấy cũng như các mô phần mềm hay gân, bao khớp, xương bị tổn thương.
- Cơn đau nhức nhối tăng lên rõ rệt ban đêm làm mất ngủ phải đi đi lại lại, giơ tay bị viêm lên cao, đó là dấu hiệu căng tức vì có mủ rồi, cần phải chích mủ ngay.
3.       Điều trị nhiễm khuẩn cấp tính ở bàn tay
a. Thời kỳ viêm tấy chưa làm mủ: nguyên tắc là điều tri bảo tồn, không được chích rạch, hoặc tư động khêu chọc, vì có thể gây nhiễm khuẩn lan toả, nhiễm khuẩn huyết.
- Tại chỗ: ngâm nước nóng, đắp cồn pha loãng
- Kháng sinh chỉ có tác dụng trong giai đoạn viêm tấy đang lan, chưa thành mủ. Nhiều trường hợp đã thành mủ nhưng vẫn dùng kháng sinh, gây ra nung mủ kéo dài âm ỉ nhưng không thoát ra được, gây phản ứng xơ liên kết, vừa duy trì ổ viêm dễ tái phát, vừa ảnh hưởng tới cơ năng vận động.
- Bất động tốt bằng nẹp bột hoặc băng có độn, giữ bàn tay trong tư thế cơ năng, vẫn có thể tập luyện các ngón tay không bị tổn thương. Bất động làm hết viêm tấy hoặc chuẩn bị cho viêm tấy nhanh chóng khu trú làm mủ.
b. Thời kỳ đã làm mủ: nhất thiết phải mổ, nhằm mục đích:
- Tháo mủ và dẫn lưu tốt ổ mủ
- Cắt bỏ hết mô hoại tử
- Thăm dò tìm tất cả các đường mủ lan
Muốn thực hiện tốt các đòi hỏi trên, phải mổ trong các điều kiện dưới đây:
- Vô cảm thật tốt: mổ chín mé có thể gây tê novocain kẽ ngón. Mổ viêm tấy bàn tay phải gây tê (đám rối thần kinh cánh tay) hoặc gây mê. Tuyệt đối không gây tê tại chỗ bằng kelen (chlorur etyl) khi mổ vào lớp sâu, vì bệnh nhân rất đau.
- Vùng mổ sạch, không có máu thấm để nhìn rõ các tổ chức cắt lọc. Vì vậy cẩn để garô khi mổ viêm tấy bàn tay.
- Đường mổ rạch phải bảo đảm dẫn lưu mủ tốt mà không gây tổn thương thêm. Đối với ngón tay, dùng đường rạch ở trên đường giao tiếp giữa da và vùng mủ và gan ngón tay. Đối với gan tay, tránh đường rạch cắt chéo các nếp gấp ngang của gan tay. Không nên dùng mũi dao chích một lỗ và thông với các túi mủ. Cũng không nên rạch rộng lan tới các mô lành gây nhiễm khuẩn lan rộng, cũng như tránh cắt vào bó mạch thần kinh, gân. Cuối cùng, đường rạch không được để các sẹo co sau này.
- Dẫn lưu bằng cao su mỏng, chỉ để 48 giờ, không nên dùng ống cao su hoặc bấc gạc.
- Băng ép để thoát dịch mủ: tránh ứ đọng và đồng thời cầm máu, nhưng băng phải giãn để dẫn lưu tốt.
- Đặt nẹp bột bất động bàn tay
- Tập cử động sớm các ngón tay. Sau khi vết thương khô, bệnh nhân được hướng dẫn tập luyện tỉ mỉ để chóng phục hồi chức năng.
4.       Các loại nhiễm khuẩn cấp tính chính ở bàn tay
Có hai loại chính:
- Nhiễm khuẩn vùng ngón tay gọi là chín mé
- Nhiễm khuẩn vùng bàn tay tạo nên các trường hợp viêm tấy bàn tay.

aaa

aaa

Các Bài Viết Cùng Chuyên Mục

-