Home

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ- CÁC BỆNH NẤM NÔNG THƯỜNG GẶP- NGUYÊN NHÂN, CHẨN ĐOÁN - Bệnh Da Liễu

MỤC TIÊU
1. Nêu được triệu chứng lâm sàng của các bệnh nấm nông ở da.
2. Trình bày được các triệu chửng lảm sàng của nấm tóc và nấm móng.
3. Trình bày được các phương pháp điều trị các bệnh nấm nông ở da, tóc và móng.


1. ĐẠI CƯƠNG CÁC BỆNH NẤM NÔNG THƯỜNG GẶP

Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới vừa nóng vừa ẩm nên rất thuận lợi cho các chủng nấm phát triển. Các bệnh nấm ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú. Nấm gây các bệnh ở da, tóc, móng và niêm mạc được gọi là các bệnh nấm nông. Nấm gây thương tổn dưới da, xương, phủ tạng gọi là các bệnh nấm sâu hay nấm hệ thống.
. Các bệnh nấm nông ở Việt Nam bao gồm nhiều loại và có tỷ lệ khác nhau từng vùng. Tuy nhiên, theo thống kê của một số tác giả thì các bệnh nấm nông có tỷ lệ khá cao đứng hàng thứ hai sau bệnh chàm trong tổng số các bệnh nhân đến khám tại các phòng khám Da liễu.
Những bệnh nấm nông thường do các chủng nấm sợi (Dermatophyte) gây nên. Có ba loại nấm sợi gây bệnh khác nhau. Trichphyton - gây bệnh ở da, tóc và móng; Microsporum - gây bệnh ở da và tóc; Epidermophyton - gây bệnh ở da và móng. Các chủng nấm sợi chỉ xâm nhập vào lớp sừng và gây bệnh do sản phẩm chuyển hoá của nấm hay do quá trình quá mẫn muộn. Nhìn chung, các chủng nấm có nguồn gốc từ súc vật (Zoophilic) (lây từ súc vật sang người) gâv ra phản ứng viêm mạnh hơn các chủng nấm có nguồn gốc từ người (Anthropophilic) (lây từ người sang người).

2. CÁC BỆNH NẤM NÔNG Ở DA

2.1. Nấm da nhẵn (tinea corporis)

- Căn nguyên: Trichophyton, Microsporum
- Triệu chứng lâm sàng:
Bệnh gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào. Thương tổn cơ bản là các dát đỏ hình tròn hay bầu dục. Bờ có mụn nước và vảy da. Trung tâm lành. Số lượng thương tổn có thể ít hoặc nhiều. vị trí hay gặp: vùng da nhẵn như mặt, lưng, bụng, tay, chân. Tuy nhiên có thể lan đến các kẽ như nách, bẹn, vú... (xem ảnh 3 ĩ ở phụ bản).
- Triệu chứng cơ năng: ngứa, ngứa tăng lên khi ra mồ hôi.

2.2. Nấm bẹn (tinea cruris)

- Căn nguyên: Epidermophyton floccosum, Trichophyton rubrum.
- Triệu chứng lâm sàng:
Bệnh hay gặp ở các khu tập thể do dùng chung chăn, màn, giường chiếu, quần áo, xô chậu... Bệnh cũng hay gặp ở những người béo bệu, đái tháo đường. Thương tổn cơ bản là các dát đỏ có vảy, bờ có mụn nước, hình tròn, hình bầu dục hoặc hình đa cung, lan từ giữa ra ngoại vi. Vị trí hay gặp là bẹn, kẽ bẹn, một hay hai bên.
- Triệu chứng cơ nàng: rất ngứa đậc biệt khi lao động mồ hôi ra nhiều.

2.3. Nấm bàn chân (Tinea pedis)

- Căn nguyên: phần lớn gây bệnh do Trichophyton rubrum, ngoài ra do Trichophyton mentagrophytes uar interdigitale và Epìdermophiton flocosum. Bệnh hay lây trong các bể bơi, nhà tắm công cộng, hoặc do giầy, bít tất bị nhiễm nấm.
- Triệu chứng lâm sàng:
+ Hình thái bọng vảy: lòng bàn chân đỏ, bọng vảy nhiều. Có thể bọng vảy nhỏ từng đám hay lan rộng toàn bộ bàn chân. Đôi khi có thể xuất hiện các mụn nước nhỏ (xem ảnh 32 ở phụ bản).
+ Hình thái viêm kẽ: hay gặp nhất là kẽ thứ 3 và thứ 4. Các kẽ này bị viêm, tiết dịch, da mún, trắng.
- Triệu chứng cơ năng: ngứa và đau.

3. NẤM TÓC (TINEA CAPTITIS)

Các loại nấm nông có thể gây bệnh ở da đầu, chân tóc làm tóc bị khô, gãy hoặc xén tóc. Các hình thái lâm sàng sau đây hay gặp nhất:

3.1. Favus

- Căn nguyên: do THchophyton schonleini, Trichophyton quynckeanum, Trichophyton gypseum.
- Triệu chứng lâm sàng: trên da đầu có các đám vảy tiết nhỏ màu vàng và có mùi hôi đặc biệt (mùi chuột chù). Nếu cậy vảy sẽ để lại một hố lõm (hình godet). Thương tổn khu trú ngay dưới chân tóc. Sợi tóc trong vùng thương tổn không rụng nhưng khô, mất vẻ bóng nhoáng. Có thể có hình thái không điển hình: bọng vảy giống như gàu nhưng tập trung thành từng đám và khi cậy vảy thì thấy các hỗ lõm li ti như châm kim.
Xót nghiệm: thây hào tứ nấm thành chuỗi trong lòng sợi tóc.

3.2. Nấm tóc gây thâm nhiẽm và mưng mủ (kerìon de celse - nấm tổ ong)


- Căn nguyên:
Trichophyton canir
Trichophyton verrucosum
M icrosporum mcnlagrophytes
Triệu chứng lâm sàng: bệnh hay gặp ở trẻ em nông thôn có tiếp xúc với các loại gia súc. chủ vếu là mèo.
Thương tổn cơ bản đầu tiên là cốc mụn mủ ở một số chân tóc, sau đó lan dần ra xung quanh, tạo thành một mảng lớn nổi cao, thâm nhiễm. Bề mặt thương tổn ghồ ghề, có nhiều vảy. Nếu cậy vảy thấy lỗ chỗ như tổ ong chứa nhiều mủ nên gọi là "tầng ong mật". Tại đám thương tổn tóc bị rụng.
- Xét nghiệm: thấy bào tử nấm thành chuỗi bao quanh sợi tóc.

3.3. Nấm làm trụi tóc (trichophytie) hay còn gọi là nấm tóc nha bào lớn (toigne trichophytique).

- Căn nguyên:
Trichophyton violaceum
Trichophyton tonsurarans
Trichophyton sondaneuse
Triệu chứng lâm sàng: bệnh có thể gặp ở cả trẻ em và người lớn.
Thương tổn cơ bản là các đám bọng vảy da đầu. Tóc ở vùng thương tổn bị gãy sát da đau. nhìn kỹ thấy các chấm đen. Có thể các máng bọng vảy liên kết tạo thành mảng lớn tóc gãy không đều. Không có triệu chứng cơ năng.
Xét nghiệm: thấy các bào tử nấm xếp thành chuỗi trong lòng sợi tóc.

3.4. Nâm xén tóc (microsporie) hay còn gọi là nấm tóc nha bào nhỏ (teigne microsporique)

- Căn nguyên: Mierosporum andouini
Microsporum langeroni
Microsporum. canis
- Triệu chứng lâm sàng: bệnh hay gặp ở trẻ em và lây truyền do dùng chung nón, mũ, lược.
Thương tổn cơ bản là các mảng da bọng vảy ở đầu, hình tròn hay bầu dục. Tóc trong vùng thương tổn bị xén cách mặt da đầu khoáng 5—8 mm (nên gọi là nấm "xén tóc").
Chân tóc còn lại được bao phủ bỏi một lớp trắng như "đi bít tất".
- Xét nghiệm: thấy các bào tử nấm bao quanh sợi tóc.

4. NẤM MÓNG (TINEA UNGUIUM)

4.1. Bệnh nấm móng do Trichophyton

- Căn nguyên: do các chủng nấm
Trichophyton violaceum
Trichophyton tonsurans
Trichophyton rubrum
- Triệu chứng lâm sàng: thương tổn bắt đầu ở bờ tự do rồi lan vào trong. Đầu tiên móng ngả màu vàng, mất bóng rồi dày lên, dưâi móng có một khối sừng dễ mủn. Có thể các móng bị teo, mòn dần từ bò tự do đến chân móng. Ngoài thương tổn ở móng có thể có thương tổn nấm da và nấm tóc.

4.2. Nấm móng do Candida

- Căn nguyên: Candida là loại nấm men rất phổ biến trong thiên nhiên. Chúng có thể gây bệnh ở da, niêm mạc và móng (hay gặp nhất là Candida albicans).
- Triệu chứng lâm sàng: khác han với nấm móng do Trichophyton bắt đầu à bờ tự do, nấm móng do Candida thường bắt đầu bằng viêm quanh móng và chỉ có ở móng tay. Da xung quanh móng sưng đỏ, nê và có mủ. Móng gồ ghề và hỏng từ gốc móng ra bờ tự do.

5. CHẨN ĐOÁN BỆNH NẤM NÔNG THƯỜNG GẶP

Cần dựa vào:
- Thương tổn cơ bản
- Xét nghiệm: soi tươi tìm nấm từ:
+ Vảy da tại thương tổn (nấm da).
+ Sợi tóc hay vảy tiết vùng da đầu bị thương tổn (nấm tóc).
+ Chất sừng mủn ở dưới móng và mủn ở gốc móng (nấm móng).
Chú ý: muốn định loại chủng nấm gây bệnh cần phải nuôi cấy trên môi trường Sabouraud.

6. ĐIỀU TRỊ BỆNH NẤM NÔNG THƯỜNG GẶP

6.1. Điều trị các bệnh nấm nông ở da

- Tại chỗ:
Bôi các thuốc sau đây:
+ Dung dịch ASA
+ Mỡ Whitfield
+ Kem fazol
+ Kem nizoral
+ Kem clotrimazol
Mỗi ngày bôi 1 - 2 lần trong 2 - 3 tuần.
Chú ý: tuyệt đối không được dùng dao hay vật cứng cạo vào thương tổn.
- Toàn thân: trong trường hợp thương tổn lan rộng và tái đi tái lại nhiều lần cần phải dùng kháng sinh chống nấm toàn thân, như:
+ Ketoconazol (nizoral) 200mg X lv/ngày trong 10 ngày, hoặc
+ Terbinafin (lamìsil) 250mg lv/ngày trong 10 - 15 ngày, hoặc
+ Itraconazol (sporal) 100mg X lv/ngày trong 10 - 15 ngày.

6.2. Điều trị các bệnh nấm tóc


- Các thuốc bôi tại chỗ: BSI, kem nizoral, kem clotrimazol... Tuy nhiên các thuốc bôi tại chỗ thường ít tác dụng vì nấm theo sợi tóc ăn xuống sâu.
- Toàn thân: có thể dùng một trong các thuốc sau đây:
+ Griseofulvin (gricin) 20mg/kg cơ thể /ngày trong 3- 4 tuần.
+ Itraconazol (sporal) viên 100mg X lv/ngày trong 3- 4 tuần.
+ Ketoconazol (nizoral) viên 200mg X 1 — 2v/ngày trong 1- 2 tháng. Liều đối với trẻ em: 4 — 8 mg/kg cơ thể /ngày.
- Với nấm tổ ong (kerion de celse): trích rạch mủ, bôi thuốc chống nhiễm khuẩn, phối hợp thuốc chống nấm. Có thể cho kháng sinh chống nấm đường toàn thân.

6.3. Điều trị nấm móng

6.3.1. Nấm móng do Trichophyton


- Nếu thương tổn ít, chỉ mủn ở bờ tự do thì chỉ cần bôi tại chỗ:
Dung dịch BSI 2% bôi buổi sáng.
Kem nizoral hoặc kem fazol bôi buổi tối.
- Nếu thương tổn nhiều, móng hỏng từ bờ tự do đến chân móng cần phối hợp bôi tại chỗ và uống các thuốc sau đây:
+ Griseofuyin (gricin): 20mg/kg/ngày trong 3—6 tháng, hoặc + Ketoconazol (nizoral) 200mg/ngày trong 6—12 tháng.
Chú ý: không dùng cho bệnh nhân bị các bệnh về gan, thận, phụ nữ có thai, cho con bú và những người quá mẫn cảm với thuốc.

6.3.2. Nấm mông do Candida

Điều trị tại chỗ kết hợp uống toàn thân:
+ Kem nizoral, lamisil, trosyd: ngày bôi 1- 2 lần trong 2 -3 tuần.
+ Ketoconazol (nizọral) hoặc itraconazol (íporal), người lớn viên l00 mg X 1 - 2 v/ngày trongl-2 tháng.

TỰ LƯỢNG GIÁ

1. Hãy trình bày các đặc điểm lâm sàng của các bệnh nấm nông ở da?
2. Nêu căn nguyên và đặc điểm lâm sàng của nấm móng?
3. Nêu các triệu chứng lâm sàng của các bệnh nấm tóc?
4. Hãy trình bày các phương pháp điều trị các bệnh nấm nông ở da, tóc, móng?

PHỤ BẢN MINH HỌA

PHỤ BẢN MINH HỌA

aaa

Các Bài Viết Cùng Chuyên Mục

-