Home

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ- BỆNH VẢY NẾN- NGUYÊN NHÂN, CHẨN ĐOÁN - Bệnh Da Liễu

MỤC TIÊU

1. Nêu được căn sinh bệnh học của bệnh vảy nến.
2. Trình bày đưực các thương tổn cơ bản của bệnh vảy nến.
3. Nêu được đặc điểm của các thể vảy nến.
4. Trình bày được các phương pháp điều trị bệnh vảy nến.

1. ĐẠI CƯƠNG BỆNH VẢY NẾN

Vảy nến (psoriasis) là một bệnh da khá phổ biến, gặp ở mọi lứa tuổi, mọi chủng tộc và bất kỳ ở đâu. Theo thống kê, tỷ lệ bệnh vảy nến khác nhau tùy theo từng nước, từng châu lục, song dao động trong khoảng 2 — 5% dân số.
Mặc dù được nghiên cứu từ lâu, tuy nhiên cho đến nay căn sinh bệnh học của bệnh vẫn còn nhiều điều chưa được sáng tỏ. Yếu tố di truyền và tự miễn đã dược đề cập. Rối loạn miễn dịch tại chỗ là một vấn đề quan trọng gần đây được nhiều tác giả quan tâm.
Đặc điểm nổi bật nhất của bệnh là tiến triển dai dẳng, hay tái phát sau những đợt tạm yên. Thương tổn cơ bản của bệnh là các dát đỏ có vảy tráng như nến, nhưng trong nhiều trường hợp bệnh còn có các thương tổn ở móng và khớp.

2. CĂN SINH BỆNH HỌC BỆNH VẢY NẾN

Cho tới nay vẫn còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng trong cơ chế bệnh sinh của vảy nên. Qua nghiên cứu về miễn dịch và di truyền, đa số các tác giả cho ràng vảy nến là một bệnh rối loạn miễn dịch có yếu tố di truyền.
Người ta đã xác minh được các vếu tố HLA có liên quan đến bệnh vảy nến. Những người có HLA CW6, HLA B17, HLA B27, HLA B37 có nguy cơ mắc bệnh vảy nến cao. Trong thực tế, theo thống kê của nhiều tác giả, bệnh vảy nến có tính chất gia đình (dao động từ 5 — 50%). Tuy nhiên, người ta cũng thấy rằng tính di truyền trong bệnh vảy nến là do nhiều yếu tố quyết định, không một yếu tố riêng nào có thể gây được bệnh.
— Các yếu tố thuận lợi:
+ Tuổi: tuổi hay gặp nhất lúc phát bệnh lần đầu là lứa tuổi 20 — 30. Theo một số tác giả chi có khoảng 2.79% phát bệnh sau tuổi 50. Đặc biệt y văn cũng ghi nhận trường hợp phát bệnh sớm nhất lúc mới 1 tuổi và trường hợp phát bệnh muộn ở tuổi 102.
+ Nhiễm khuẩn.
+ Chấn thương thượng bì.
+ Stress: chấn thương tâm lý có thể làm khơi phát bệnh hoặc làm nặng bệnh thêm.
+ Rối loạn nội tiết.
+ Rối loạn chuyển hóa.
+ Nghiện rượu.
+ Thay đôỉ khí hậu, môi trường.
Những yếu tố trên là yếu tố thuận lợi góp phần làm khởi phát bệnh hoặc làm cho bệnh nặng thêm.

3. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH VẢY NẾN

3.1. Thương tổn da (xem ảnh 73 phụ bản)

Thương tổn da điển hình là dát đỏ có vảy hình tròn hoặc bầu dục. hoặc thành máng có nhiều vòng cung với các đặc điểm sau:
- Ấn kính mất màu
- Ranh giới rõ với da lành
- Có vảy tráng khô, dễ bọng, nhiều tầng xếp lên nhau. Khi cạo hết các lớp vảy nến da phía dưới đỏ tươi.
- Vị trí khu trú chủ yếu ở vùng tỳ đè: khuỷu tay, dđầu gối, xung quanh rìa tóc. mặt duỗi các chi, nói chung có tính chất đối xứng.
- Kích thước: to nhỏ khác nhau từ 0,5 — l0cm đường kính.
Cạo vảy theo phương pháp Brocq\ đây là phương pháp đặc hiệu dùng để xác định thương tổn vẩy nến.
Cách làm như sau:
Dùng một thìa nạo cùn cạo vảy nhẹ nhàng, nhiều lần (khỏang 20 - 40 - 100 lần), cạo thong thả cho vảy bong từng lớp sẽ thấy:
+ Đầu tiên là các lớp vảy bọng ra và cuối cùng có một màng mỏng tráng, hoặc màng rách từng mảng (gọi là dấu hiệu màng bọng).
+ Dưới màng bọng là bề mặt đỏ, nhằn, bóng.
+ Cạo thêm một vài lần nữa thì thấy xuất hiện các đốm chảy máu nhỏ li ti. Đây là dấu hiệu giọt sương máu của Auspitx (Auspitz’s sign).
Dấu hiệu Knbner
Đây là một đặc điểm thường gặp trong bệnh vảy nến. Thương tổn có thể xuất hiện tại vị trí bị sang chấn hay bóng, sẹo, vết cào gãi.

3.2. Thương tổn móng (xem ảnh 14 ả phụ bản)

Khoảng 30 - 40% bệnh nhân vẩy nến có thương tổn ở móng tay, móng chân. Các thương tổn móng thường gặp là:
- Móng ngả màu vàng.
- Có các chấm lỗ rỗ trên bề mặt.
- Dầy. dễ mún.

3.3. Thương tổn khớp (xem ảnh 20 ở phụ bản)

Tỷ lệ bị thương tổn khớp tùy thuộc vào từng thể. Theo một số tác giả ở thể nhẹ chỉ có 2% có biểu hiện ở khớp. Trong khi đó tỷ lệ bị thương tổn khớp trong các thể vảy nến nặng là khoảng 15 — 20%.
Biểu hiện hay gặp là:
Viêm khớp mạn tính.
- Biến dạng nhiều khớp.
Cung khớp.
- X.quang thấv hiện tượng mất vôi ở đầu xương, hủy hoại sụn, xương, dính khớp.

4. CÁC THỂ LÂM SÀNG BỆNH VẢY NẾN

4.1. Thể thông thường

4.1.1. Tùy theo kích thước tổn thương vảy nến người ta chia ra các thể sau:


- Thể giọt: kích thước thương tổn nhỏ khoảng 0,5 - lcm đường kính.
- Thể đồng tiền: kích thước thương tổn 1 - 3 cm (xem ảnh 15 ở phụ bản).
- Thể mảng: các mảng thương tổn có đường kính từ 5 — l0cm (xem ảnh 16 phụ bản).
- Thể toàn thân: thương tổn lan tỏa khắp toàn thân, còn ít vùng da hành (xem ảnh 17 phụ bản).

4.1.2. Tùy theo vị trí khu trú của thương tổn người ta chia ra các thể:

- Thể đảo ngược: vị trí hay gặp ở các kẽ, hốc tự nhiên: nách, bẹn, cổ, ...
- Vẩy nến niêm mạc: thương tổn do quy đầu, môi, mắt.
- Vảy nến ở đầu chi: thương tổn ở lòng bàn tay, bàn chân, đầu ngón tay.
- Vảy nến ở da đầu: thương tổn khu trú ở da đầu dễ nhầm với nấm tóc, chàm da mỡ. tóc vẫn mọc xuyên qua các thương tổn mà không rụng (xem ảnh 18 ở phụ bản).
- Vảy nến (mặt: tương đối hiếm gặp).

4.2. Thể đặc biệt

- Vảy nến thể mủ: có hai thể:
+ Thể mụn mủ rải rác: các mụn mủ có đặc điểm: xuất hiện đột ngột kèm theo sốt cao. mệt mỏi. Các mụn mủ nhỏ bàng đầu đinh ghim tráng đục nằm ở nòng dưới lớp sừng. Mụn mủ có thể mọc toàn thân; hoặc hai chi dưới
Xét nghiệm mủ soi tươi và nuôi cấy không tìm thấy vi khuẩn (xem ảnh 19 ở phụ hán).
+ Thể khu trú ở lòng bàn tay, chân; vảy nến thể mủ khu trú ở các đầu ngón tay. ngón chân còn gọi là viêm da đầu chi liên tục của Hallopeau
- Vảy nến thể khớp (xem ảnh 20 ở phụ bản).
- Vẩy nến đỏ da toàn thân: có thể do hậu quả của việc sử dụng Corticoid tại chỗ và toàn thân. Song đôi khi là biểu hiện đầu tiên của bệnh vẩy nến (xem ảnh 21 ở phụ bản).

5. TIẾN TRIỂN BỆNH VẢY NẾN

Bệnh vảy nến tiến triển thất thường. Sau một đợt cấp phát, bệnh có thể ổn định, tạm lắng một thời gian. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp dai dẳng trong nhiều tháng, nhiều năm. Đặc biệt những thương tổn tại vùng tỳ đè rất khó khỏi. Vì tiến triển khó lường nên khi hết các thương tổn cùng không nói được bệnh đã khỏi nên cần có một thái độ xử lý đúng.

6. BIẾN CHỨNG BỆNH VẢY NẾN

Các biến chứng thường gặp:
- Chàm hoá. bội nhiễm, ung thư da.
- Đỏ da toàn thân.
- Vảy nến thể khớp có thể làm biến dạng khớp, cứng khớp, nhất là cột sống.

7. MÔ BỆNH HỌC BỆNH VẢY NẾN

Hình ảnh đặc trưng như sau:
+ Lớp sừng dày có hiện tượng á sừng.
+ Lớp hột biến mất.
+ Lớp gai mỏng.
+ Mầm liên nhú dài ra.
+ Có vi áp xe của Munro trong lớp gai.

8. CHẨN ĐOÁN BỆNH VẢY NẾN

8.1. Chẩn đoán xác định

- Dựa vào lâm sàng: dát đỏ, có vảy trắng, giới hạn rõ hay gặp ở vùng tỳ đè. Cạo vảy theo phương pháp Brocq dương tính.
- Trường hợp lâm sàng không điển hình có thể dựa vào hình ảnh mô bệnh học.
- Đánh giá mức độ bệnh: với thể thông thường, đánh giá mức độ trầm trọng của bệnh dựa vào chỉ số PASI (Psoriasis Area and Severity Index), trong đó
+ PASI < 10 mức độ nhẹ
+ PAS1 từ 10 — < 20 mức độ vừa + PASI ≥ 20 mức độ nặng

8.2. Chẩn đoán phân biệt

Cần phân biệt bệnh vảy nến với một số bệnh sau:
- Giang mai thời kỳ thứ II: thương tổn cơ bản là các sẩn màu hồng, thâm nhiễm, xung quanh có vảy tráng, cạo vây theo phương pháp Brocq âm tính, Xét nghiệm huyết thanh giang mai dương tính.
- Á vảy nến: là các sẩn, mảng màu hồng có vảy trắng. Cạo vảy theo phương pháp Brocq có dấu hiệu “gắn xi”.
- Vảy phấn hồng Gìbert: thương tổn cơ bản là mảng da đó hình tròn hoặc hình bầu dục, có vảy phấn nổi cao so vói trung tâm, vị trí hay gặp là mạng sườn, bụng, 2 dùi. Tiên triển: bệnh sẽ khỏi trong vòng 3 tuần.
- Vảy phấn đỏ nang lông: là các sẩn hình chóp màu hồng có vảy phấn khu trú ở nang lông. Vị trí hay gặp nhất là ở mặt duỗi đốt 2 đốt 3 ngón Tay và ngón chân, bụng, chi dưới.

9. ĐIỀU TRỊ BỆNH VẢY NẾN

Phải phối hợp điều trị tại chỗ, toàn thân kết hợp với tư vấn.

9.1. Tại chỗ: sử dụng các thuốc bọng vảy, khử oxy chống viêm.

+ Mỡ salicylé 1- 5%.
+ Mỡ goudron.
+ Mỡ corticoid.
+ Calcipotriol (vitamin D3),
+ Kem hoặc mỡ các loại retinoid, ví dụ Tazarotene gel.
- Chiếu tia cực tím:
+ UVB, UVA (tia cực tím có bước sóng ngắn và dài)
+ PUVA (Psoralene Ultraviolet A): uống hoặc bôi Psoralene sau đó chiếu tia UVA.

9.2. Toàn thân

- Vitamin A acid: Soriatane: 25 — 30 mg/ngày. Chổng c.hĩ định đối với phụ nữ có thai hay cho con bú, suy gan, suy thận, lipid máu cao.
- Methotrexat. Liều: mỗi tuần 7,5 - 10mg, uống hay tiêm bắp thịt.
- Cyclosporin A: ức chế miễn dịch. Liếu khỏi đầu là 1,5 - 2,5 mg/kg/ngày.
Các thuốc trên có nhiều tác dụng phụ như gây quái thai. rối loạn chức năng gan. Giảm bạch cầu... nên cần thận trọng khi chỉ định và phải theo dõi nghiệm ngặt trong quá trình điều trị.
- Corticoid: không đùng corticoid đường toàn thân vì nguy hiểm, gây nhiêu biến chứng và đặc biệt là đỏ da toàn thân.
- Phương pháp sử dụng các chất sinh học: gần đây người ta đã tổng hợp dược nhiều chất sinh học có tác dụng điều trị bệnh vảy nến rất hiệu quả, đó là:
+ Etanerccpt.
+ Alefacept.
+ Kfalizumab.
Tuy nhiên, phướng pháp này rất đắt tiền và có nhiều tác dụng phụ.

9.3. Tư vấn

Tư vấn cho bệnh nhân đóng một vai trò rất quan trọng trong điều trị bệnh vảy nên. Vì tiến triển của bệnh rất thất thường nên không được lơ là, tự động bỏ thuốc khi thấy thương tổn giảm hay biến mất. cần tuân thủ chế độ điều trị của thầv thuốc đồng thời tránh các chất kích thích (bia, rượu), stress và điều trị triệt để các bệnh mạn tính nếu có.

KẾT LUẬN

Vẩy nến là một bệnh da rất thường gặp, cơ chế bệnh sinh chưa rõ ràng. Mặc dù có nhiều tiến bộ trong điều trị với nhiều phương pháp hiện đại, song cho đến nay chưa có một phương pháp nào có thể điều trị khỏi hoàn toàn bệnh vay nến. Bệnh hay tái phát nên trong quá trình điều trị cần giáo dục, tư vấn cho bệnh nhân dê họ có một chế độ sinh hoạt điều độ, điều trị hợp lý nhằm tránh được các tiên triển xấu cũng như các biến chúng của bệnh.

TỰ LƯỢNG GIÁ

1. Hãy trình bày các yếu tố liên quan đến các cản sinh bệnh học của bệnh vảy nên?
2. Hãy nêu các triệu chứng lâm sàng của bệnh vảy nến?
3. Hãy trình bày các thể lâm sàng của bệnh vảy nến?
4. Hãy nêu các phương pháp điều trị bệnh vảy nến?

PHỤ BẢN MINH HỌA

PHỤ BẢN MINH HỌAPHỤ BẢN MINH HỌAPHỤ BẢN MINH HỌAPHỤ BẢN MINH HỌAPHỤ BẢN MINH HỌAPHỤ BẢN MINH HỌAPHỤ BẢN MINH HỌAPHỤ BẢN MINH HỌAPHỤ BẢN MINH HỌAPHỤ BẢN MINH HỌAPHỤ BẢN MINH HỌAPHỤ BẢN MINH HỌA

BỆNH VẨY NẾN

I.  ĐẠI CƯƠNG BỆNH VẨY NẾN
Bệnh vảy nến là gì ?
Bệnh vảy nến là một bệnh da hay gặp (3 - 5% tổng số bệnh da ở khoa da liễu, 0,5 - 3% dân số ở châu Âu).


Căn nguyên chưa rõ nhưng thể địa vẩy nến thì đã được xác định chắc chắn, Cách di truyền vẩy nến thì chưa xác định được. Thể địa vẩy nến hay vẩy nến tiềm tàng có thể xác định bởi các tiêu chuẩn sau:
- Gen vẩy nến nằm ở nhiễm sắc thể số 6.
- Có liên quan tới hệ kháng nguyên bạch cầu người (HLA) như HLA - DR 7, B13, BW16, BW17 và ở vẩy nến thể khớp thì B27.
- Giảm AMP vòng (CAMP).
- IgA "tiết" tăng cao.
- Đáp ứng miễn dịch tế bào giảm.
- Hoạt hoá lympho B đa clon (sinh tự kháng thể)...
Không nhất thiết tất cả mọi người có thể dịa (hay gen) vẩy nến đều sẽ bị vẩy nến. Phải có những điều kiện khách quan, chủ quan nhất định để vẩy nến hình thành (nhiễm khuẩn, virus, chấn thương, xút; cảm mạnh V.V.).
Biểu hiện nổi bật nhất ở trong vẩy nến là sự tăng sinh mạnh lớp thượng bì (hoạt động phân nhân và sự tổng hợp ADN của tế bào đáy tăng khoảng 8 lần so với bình thường, chu kỳ tế bào từ lớp đáy lên lớp sừng từ 23 - 30 ngày xuống  còn 3 - 4 ngày dẫn đến dầy sừng, rối loạn biệt hoá tế bào sừng dẫn đến sinh ra nhiều vẩy á sừng, bong vẩy mạnh.
II. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH VẨY NẾN
Có thể tóm tắt như sau: sẩn đỏ + vẩy dễ bong màu ánh bạc.
1. Sẩn đỏ
Kích thước từ bằng đầu đinh ghim đến bằng móng tay, đồng xu, hoặc mảng đám to bằng bàn tay.
Sờ nắn vào hơi cộm, ranh giới rõ rệt.
Màu dỏ tươi, ráo.
2. Vẩy
Trên nền sẩn đỏ có vẩy ánh bạc phủ thành nhiều lớp, dầy, mỏng tuy từng trường hợp. vẩy nến dễ bong, cạo nhẹ vẩy bong thành lớp mỏng như khi ta cạo lên một vết nến. vẩy khô, bong thành lá nhỏ, mỏng.
Tuỳ theo vị trí tổn thương và thời gian xuất hiện mà tổn thương có màu sắc khác nhau: xám bạc, xám nâu, khô hoặc ẩm.
Để xác định có phải tổn thương vẩy nến hay không thường dùng phương pháp cạo Brocq như sau:
a. Dấu hiệu vết nến: dùng nạo cạo nhẹ lên tổn thương nhiều lần (vài chục lần trở lên). Vẩy sẽ bong dần dần như khi ta cạo lên một giọt nến đã khô ử trên mặt bàn.
b. Dấu. hiệu màng bong: khi cạo hết lớp vẩy đã nói ở trên ta sẽ gặp một màng mỏng, bóng, ướt bong ra. Phải cạo khéo tay thì mới lấy được cả màng, nếu không sẽ làm rách vụn và rớm máu.
c. Dấu hiệu, hạt sương máu: khi cạo lấy được màng mỏng thì các nhú bì của trung bì được bộc lộ va máu ở các mao mạch của nhu bi sẽ ứa ra từ từ, tạo thành các giọt huyết thanh lẫn máu trông như hạt sương có mẩu đỏ nên gọi là hạt sương máu.
Ba dấu hiệu trên chứng tỏ tổn thương đươc cạo lầ tổn thương vấy nên:
a. Chứng tỏ có dầy sừng, á sừng..
b. Chửng tỏ có tăng sinh lớp đáy.
c. Chứng tỏ có tăng nhú và tăng sinh mao mạch nhú bì. Quan trọng nhất trong 3 dấu hiệu là dấu hiệu b.
Tức màng mỏng bong được. Do đó khi cạo theo phương pháp Brocq phải làm rất cẩn thận, từ từ không nóng vội.
3. Vị trí thường gặp
Vẩy nến có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào trên da. Nhưng đầu tiên người ta hay gặp ở các vị trí tỳ đè như: cùi tay, đầu gối vùng xương cùng chậu hoặc ở da đầu. ngược lại một số vị trí hiếm gặp như các nếp kẽ nách, bẹn hoặc niêm mạc, nếu gặp ở các nếp kê thì đó là vẩy nến thể đảo ngược, vẩy nến niêm mạc (quy đau môi) cũng có gặp nhưng hiếm. ’ ’
Mong cũng hay bị vẩy nến, thậm chí có khi chỉ có móng bị mà da chưa bị.
4. Phân loại vấy nến ở da
Thường dựa theo hình dạng, kích thước tổn thương mà chia ra:
- Thể chấm
- Thể giọt
- Thể đồng tiền
- Thể mảng V.V..
Hoặc tuỳ theo vị trí đặc biệt mà chia ra:
- Vẩy nến da đầu
- Vẩy nến móng
- Vẩy nến đảo ngược
- Vẩy nến quy đầu, môi.


5. Phân loại vẩy nến nói chung
Thường phân thành
- Vẩy nến thông thường (nghĩa là chỉ có tổn thương ở da và là thể hay gặp nhất).
- Vẩy nến thể khớp: trong thể này có khi đầu tiên là tổn thương khớp xuất hiện mà chưa có tổn thương da hoặc cũng gọi là vẩy nến thể khớp khi tổn thương khớp xuất hiện sau tổn thương da, nhưng ở những trường hợp do tổn thương da tồn tại, tiến triển dài ngày rồi khớp mới bị thì người ta hay gọi là có biến chứng khớp.
- Vẩy nến mụn mủ: thường xuất hiện với tổn thương mụn mủ ngay từ đầu và chia ra 2 thể khác nữa là thể toàn thân (Zum- busch) thường nặng, có triệu chứng toàn thân rầm rộ và thể khu trú chỉ ở lòng bàn chân, bàn tay (Barber). Cũng có trường hợp vẩy nến thường chuyển thành hoặc có thêm vẩy nến mụn mủ.
6. Hiện tượng Koebner
(Còn gọi là hiện tượng chấn thương gọi tổn thương): trên một cơ thể bị vẩy nến, nếu có một thương tổn da ở chỗ khác như xây sát có rớm máu, tiêm chủng, tiêm thuốc v.v. thì có thể ở các chỗ đó sẽ xuất hiện tổn thương vẩy nến. ở các sẹo cũ ở trên da (vết mổ) cũng có thể có hiện tượng Koebner. Hiện tượng Koebner cố thể giúp cho việc chẩn đoán vẩy nến, nếu ở người bệnh có tổn thương nghi ngờ là vẩy nến. Tuy nhiên, hiện tượng Koebner cũng có một số bệnh da khác.
III. TIẾN TRIỂN BỆNH VẨY NẾN
Nói chung vẩy nến là một bệnh mạn tính, có thể có đợt cấp tính (đỏ da, nổi nhiều sẩn, mảng, vết) rồi cũng có thể và thường chuyển sang mạn tính, dai dẳng, Cũng có khi tự nhiên đỡ hẳn, thậm chí sạch hết tổn thương.
Bệnh tuy tiến triển dai dẳng nhưng là một bệnh lành tính.
IV. CHẨN ĐOÁN BỆNH VẨY NẾN
1. Chẩn đoán xác định
- Chủ yếu dựa vào lâm sàng: sẩn đỏ + vẩy dễ bong, mầu ánh bạc phủ trên sẩn cạo theo phương pháp Brocq dương tính.
- Vị trí xuát hiện tổn thương đầu tiên.
- Dấu hiệu Koebner (nếu có).
- Móng và khớp (nếu có).
Nếu có điều kiện thì làm xét nghiệm giải phẫu bệnh.
2. Chấn đoán phân biệt
Chủ yếu cẩn phân biệt với.
- Á sừng da đầu nhất là ở da đầu.
- Á sững liên cầu nhất là ở da đầu.
- Nấm móng, viêm đa khớp.
V. ĐIỀU TRỊ
Chưa có phương pháp nào chữa khỏi bệnh vẩy nến nhưng có nhiều phương pháp chữa làm sạch tổn thương vẩy nến, có khi được dài ngày. Lý do: đây là một bệnh có liên quan di truyền. Điều trị ngoài da là chủ yếu. Điều trị nội khoa chỉ là phối hợp.
1. Các thuốc bôi
Chủ yếu nhằm làm bạt vẩy và một.phần ức chế sự phân bào của các tế bào lớp thượng bì. Có thể dùng các loại thuốc sau đây:
a. Mỡ, kem dithranol (1,8 - dihydroxianthranol) từ 0,1% - 2% tuỳ theo sự chịu thuốc của từng người.
b. Goudron (nhựa than đá hoặc than thảo mộc) dươi dạng nguyên chất hoặc mỡ, bột nhão 5 - 10%. Nếu trước khi bôi gouđron mà bôi dung dịch Castellani thì hiệu quả của goudron sẽ cao hơn.
c. Mỡ Sabouraud
d. Cao vàng, một số bệnh nhân dùng một loại thuốc bôi thừa kế y học dân tộc ở Chùa trắng (Hà Đông) gồm có hoạt chất là hồng đơn và mật đà tang (một số oxyd chì) và tá được là sáp ong, đầu lạc, vaselin,


2. Quang hoá liệu pháp
Bôi hoặc uông chất cảm quang (photosensibilisateur) rồi chiếu tia UVA và UVB (bước sóng từ 280 - 360nm), (280 - 315nm là UVB, 315 - 400nm là UVA). Chất cảm quang thường dùng hiện nay là chiết xuất từ hạt cây đậu miêu tả hoặc tổng hợp gọi là psoralène. Thương phẩm có tên gọi là 8 - méthoxypsoralène: 8 - MOP, méladinin v.v. ở Việt Nam, chế phẩm từ hạt đậu miêu mang tên PS1.
Bôi goudron rồi chiếu UVB cũng là một kiểu quang hoá liệu pháp,
Trong điều kiện chưa có đèn phát tia UVA thì có thể phơi nắng vào thời điểm thích hợp.
3. Khí hậu liệu pháp
Tắm biển, chủ yếu là tận dụng ánh sáng mặt trời vào các thời điểm thích hợp cũng là một cách góp phần điều trị vẩy nến.
4. Điều trị nội khoa
Trước hết cần điều trị các ổ nhiễm khuẩn nếu có (viêm họng, viêm amydan, viêm tai giữa, viêm bể thận V.V.).
Uống psoralène rồi chiếu UVA không phải là điều trị nội khoa. Trong những trường hợp đặc biệt (nặng, nhờn một số thuốc bôi thông dụng...) có thể dùng các thuốc ức chế miễn dịch như AZT, méthotrexat. Các liệu pháp sau thường chỉ định cho các trường hợp vẩy nến thể khớp, mụn mủ toàn thân.
Vitamin A acid cũng có tác dụng đối với một số trường hợp vẩy nến nặng. Gần đây có một số tác giả nước ngoài (Prinz, Braun - Falco, Reiter Nicolas, Wijdenses, Poizot - martin, Eedy v.v.) đã dùng kháng thể đơn dòng CD4 hoặc ghép tuỷ đồng loại để điều trị vẩy nến thường và vẩy nến mụn mủ, thường là nặng và mạn tính, có kết quả rất tốt.
Đặc biệt quan trọng trong khi điều trị là cần tránh mọi kích thích nội ngoại giới có thể làm cho bệnh vượng lên hoặc kéo dài khó điều trị (cạo găi, sây sát da, dùng thuốc không đúng gây viêm, tấy, bị nhiễm khuẩn da, các cơ quan khác như: viêm họng, amydan viêrn tai v.v..., chấn thương tình cảm). Vì vậy để điều trị có kết qua tốt cũng như đề phòng tái diễn bệnh khỉ đã điều trị ổn định cần giữ một chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, sinh hoạt thích hợp. Nếu cần có thể từng thời kỳ cho các thuốc an thần như seduxen, sen vông trong lức đang điều trị hoặc dưỡng bệnh

Các Bài Viết Cùng Chuyên Mục

-