Home

PHÁC ĐỒ ĐIỂU TRỊ CẤP CỨU BỆNH LÝ NHIỄM TRÙNG- NGUYÊN NHÂN - CHẨN ĐOÁN - Khoa Hồi Sức Cấp Cứu Chống Độc

CẤP CỨU BỆNH LÝ NHIỄM TRÙNG

TIẾP CẬN BỆNH NHÂN CẤP CỨU BỆNH LÝ NHIỄM TRÙNG

• Bệnh nhân sốt cấp tính cần chú ý khẩn cấp và phải được đánh giá thích hợp và điều trị các triệu chứng lâm sàng để cải thiện kết cục. Đánh giá nhanh tổng trạng cung cấp dấu hiệu chủ quan về bệnh nhân bị nhiễm trùng huyết hay ngộ độc.
• Bệnh sử: Mặc dù các biểu hiện lâm sàng thường không đặc hiệu, các nhà lâm sàng nên loại trừ yếu tố kèm theo khi hỏi bệnh trực tiếp để giúp xác định các yếu tố nguy cơ đối với những nhiễm trùng chuyên biệt:
– Hoàn cảnh khởi phát và thời gian các triệu chứng, sự thay đổi về mức độ hoặc tốc độ tiến triển theo thời gian
– Yếu tố ký chủ (vd, nghiện rượu, dùng thuốc đường tĩnh mạch) và tình trạng mắc nhiều bệnh đồng thời (vd: không có lách, ĐTĐ, nhiễm HIV)
– Nơi tiềm ẩn cho nhiễm trùng xâm lấn (vd: URI gần đây hoặc cảm cúm, chấn thương, bỏng, phẫu thuật, dị vật)
– Tiền sử phơi nhiễm (vd: du lịch, vật nuôi, chế độ ăn, dùng thuốc, chủng ngừa, tiếp xúc bệnh tật, tiền sử mãn kinh, quan hệ tình dục)
• Khám lâm sàng: A Nên khám lâm sàng toàn diện, chú ý đặc biệt đến tổng trạng, dấu hiệu sinh tồn, khám da và mô mềm, và đánh giá thần kinh ( gồm cả tình trạng tri giác).
• Xét nghiệm cẩn đoán: nên thực hiện nhanh chóng, tốt nhất là trước khi cho kháng sinh
– Xét nghiệm máu: cấy máu, công thức máu, điện giải đồ, BUN, creatinine, xét nghiệm chức năng gan, phết máu ngoại biên (đối với bệnh do ký sinh trùng hay ve bét), dung tích hồng cầu.
– Cấy dịch não tuỷ nếu nghi ngờ viêm màng não. Nếu có dấu hiệu thần kinh cục bộ, phù gai thị hoặc rối loạn tri giác, cho kháng sinh sau khi lấy máu xét nghiệm, chụp hình não, sau đó xem xét
cấy dịch não tuỷ.
– CT hoặc MRI để đánh giá áp xe cục bộ; cấy vết thương hoặc mẫu cào sang thương da khi được chỉ định.
– Việc chẩn đoán không làm hoãn quá trình điều trị bất kỳ giấy phút nào.
• Điều trị: Chủ yếu dùng kháng sinh theo kinh nghiệm (Bảng 26-1)
– Liệu pháp hỗ trợ (vd: glucocorticoids hoặc immunoglobulin tiêm mạch) có thể làm giảm tỷ lệ bệnh và tỷ lệ tử vong trong những trường hợp đặc biệt. Đối với viêm màng não do vi khuẩn, cho Dexamethasone trước hoặc cùng với liều kháng sinh đầu tiên.

BẢNG 26-1 CẤP CỨU BỆNH LÝ NHIỄM TRÙNG THƯỜNG GẶP

Hội chứng lâm
sàng
Nguyên nhân Điều trị Khuyến cáo
Nhiễm khuẩn huyết mà không xác định rõ vị trí nhiễm trùng
Sốc nhiễm trùng
Pseudomonas spp., vi khuẩn gram - đường ruột, Staphylococcus spp., Streptococcus spp.
Vancomycin (1 g mỗi 12giờ) + Gentamicin (5 mg/kg mỗi ngày) + hoặc Piperacillin/tazobactam (3.375 g mỗi 4 giờ) hoặc
Điều chỉnh điều trị khi có kết quả cấy máu. Drotrecogin alfa (dạng hoạt hóa)a hoặc hydrocortisone và fludrocortisoneb liều thấp có thể cải thiện kết cục trên bệnh nhân bị sốc nhiễm trùng.
Nhiễm trùng huyết sau cắt lách nổi trội
Streptococcus pneumoniae,
Haemophilus influenzae,
Neisseria meningitidis
Ceftriaxone (2 g mỗi 12 giờ) +
Vancomycin (1 g mỗi 12 giờ)
Nếu xác định chủng sinh vật vẫn còn nhạy
với β-lactam, vancomycin có thể ngừng.
Bệnh Babesia
ký sinh trùng Babesia (Mỹ), B.
divergens (Châu Âu)
Hoặc:
Clindamycin (600 mg 3 lần/
ngày) + Quinine (650 mg 3
lần/ngày)
hoặc:
Atovaquone (750 mg mỗi
12giờ) + Azithromycin (500-
mg tải liều ban đầu, sau đó 250
mg/ngày)
Atovaquone và azithromycin cũng hiệu quả như clindamycin và quinine và ít tác dụng phụ hơn. Điều trị doxycycline (100 mg 2 lần/ ngày c) đối với nhiễm phối hợp Borrelia burgdorferi hoặc Anaplasma spp. có thê thận trọng.
Nhiễm trùng huyết với triệu chứng lâm sàng ở da

 

Nhiễm trùng huyết do não mô cầu
N. meningitidis
Penicillin (4 mU mỗi 4giờ)
hoặc Ceftriaxone (2 g mỗi
12giờ)
Xem xét thay thế protein C đối với nhiễm
trùng huyết do não mô cầu khời phát đột ngột.
Sốt phát ban miền núi Rocky (RMSF)
Rickettsia rickettsii
Doxycycline (100 mg 3 lần/
ngày)
Nếu chưa phân biệt được nhiễm trùng huyết do
não ô cầu và RMSF, dùng ceftriaxone (2g mỗi
12giờ) + doxycycline (100 mg 2 lần/ngàyc)
hoặc chỉ chloramphenicol (50–75 mg/kg mỗi
ngày chia thành 4 lần) Nếu chẩn đoán là RMSF,
doxycycline được chứng minh là tốt hơn.
Ban xuất huyết bạo phát
S. pneumoniae, H. influenzae,
N. meningitidis

Ceftriaxone (2g mỗi 12giờ) +
Vancomycin (1g mỗi 12giờ

 

Nếu xác định chủng sinh vật vẫn còn nhạy với
β-lactam, vancomycin có thể ngừng.
Chứng đỏ da: hội chứng sốc ngộ độc
Streptococcus nhóm A,
Staphylococcus aureus
Vancomycin (1g mỗi 12giờ) +
Clindamycin (600 mg mỗi
8giờ)
Nếu chung vi khuẩn vẫn nhạy với penicillin hoặc
oxacillin, tốt hơn sử dụng vancomycin (penicillin,
2mU mỗi 4giờ; hoặc oxacillin, 2g mỗi 4giờ). Nên
cắt bỏ các mô hoại tử tại vùng nhiễm khuẩn; globulin
miễn dịch tiêm mạch có thể được sử dụng trong
những trường hợp nặng.
Nhiễm trùng huyết với triệu chứng lâm sàng ở mô mềm
Viêm cân mạc hoại tử
Streptococcus nhóm A, hỗn
hợp các sinh vật kỵ khí/ hiếu
khí, CAMRSAe
Vancomycin (1g mỗi 12giờ) +
Clindamycin (600 mg mỗi 8giờ) +
Gentamicin (5 mg/kg mỗi ngày)
Chủ yếu là đánh giá khả năng phẫu thuật khẩn
cấp. Nếu vi khuẩn vẫn còn nhạy penicillin hoặc
oxacillin, ưu tiên dùng vancomycin (penicillin,
2mU mỗi 4giờ; hoặc oxacillin, 2g mỗi 4giờ).
Nhiễm trùng huyết với triệu chứng lâm sàng ở mô mềm
Hoại tử cơ do Clostridia
Clostridium □perfringens
Penicillin (2mU mỗi 4giờ) +
Clindamycin (600mg mỗi 8giờ)
Chủ yếu là đánh giá phẫu thuật khẩn cấp
Nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương
Viêm màng não do vi khuẩn
S.□ pneumoniae,
N.□ meningitidis
Ceftriaxone (2g mỗi 12giờ) +
Vancomycin (1g mỗi 12giờ)
Nếu vẫn còn nhạy với β-lactam có thể ngưng
vancomycin. Nếu bệnh nhân >50 tuổi hoặc có bệnh
lý kèm theo, thêm ampicillin (2g mỗi 4giờ) để diệt
luôn Listeria. Dexamethasone (10mg mỗi 6giờ ×
4 ngày) cải thiện kết cục viêm màng não ở
người lớn (đặc biệt là phế cầu khuẩn) và dịch não
tủy vẩn đục, nhuộm Gram dịch não tủy dương tính,
hoặc số lượng bạch cầu dịch nõa tủy >1000/mL.
Áp xe não, nhiễm trùng mủ nội sọ
Streptococcus spp.,
Staphylococcus spp., vi khuẩn kỵ
khí, vi khuẩn gram âm
Vancomycin (1g mỗi 12h) +
Metronidazole (500mg mỗi
8giờ) + Ceftriaxone (2g mỗi
12giờ)
Chủ yếu là đánh giá phẫu thuật khẩn cấp. Nếu
vi khuẩn vẫn còn nhạy penicillin hoặc oxacillin,
ưu tiên dùng vancomycin (penicillin,
4mU mỗi 4giờ; hoặc oxacillin 2g mỗi 4giờ).
Sốt rét thể não
Plasmodium falciparum
Artesunate (2.4 mg/kg tiêm
mạch lúc 0, 12, và 24 h; sau đó 1
lần/ngày) hoặc Quinine (tải liều
tiêm mạch 20 mg muối/kg; sau
đó 10 mg/kg mỗi 8giờ) +
Doxycycline (100 mg tiêm mạch
mỗi 12giờ)
Không dùngglucocorticoids. Dùng quinidine
tiêm mạch nếu không thể dùng quinine tiêm
mạch. Khi điều trị quinidine tiêm mạch, nên
theo dõi liên tục huyết áp và chức năng tim mạch
và theo dõi đường huyết định kỳ.
Áp xe ngoài màng tủy
Staphylococcus
spp., vi khuẩn gram âm
Vancomycin (1g mỗi 12giờ) +
Ceftriaxone (2g mỗi 24giờ)
Cần đánh giá khả năng phẫu thuật. Nếu vi khuẩn
vẫn còn nhạy penicillin hoặc oxacillin, ưu tiên
dùng vancomycin (penicillin 4 mU mỗi 4giờ;
hoặc oxacillin 2g mỗi 4giờ).
Nhiễm trùng tại chỗ
Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng cấp tính

S. aureus, streptococci tán huyết
β, HACEK group,g □Neisseria
spp., S. pneumoniae

Ceftriaxone (2g mỗi 12giờ) +
Vancomycin (1g mỗi 12giờ)
Điều chỉnh điều trị khi có kết quả cấy máu.
Cần đánh giá khả năng phẫu thuật.

 

aDrotrecogin alfa (dạng hoạt hóa) dùng một liều 24 gg/kg mỗi giờ trong 96 giờ. Nó đã được chấp nhận sử dụng trên bệnh nhân nhiễm trùng huyết nặng và nguy cơ tử vong cao theo thang điểm Đánh giá sức khỏe mãn tính và sinh lý cấp tính II (APACHE II) >25 và/ hoặc suy đa cơ quan.

bHydrocortisone (50-mg tiêm nhanh tĩnh mạch mỗi 6giờ) với fludrocortisone (50-gg viên mỗi ngày trong 7 ngày) có thể cải thiện kết cục nhiễm trùng huyết nặng, đặc biệt trong trường hợp có suy thượng thận tương đối.

Tetracyclines có thể đối kháng với hoạt động của p-lactam. Điều chỉnh điều trị ngay khi chẩn đoán được xác định.

dLiều globulin miễn dịch tiêm mạch tối ưu chưa rõ, nhưng liều trung bình trong các nghiên cứu quan sát là 2g/kg (tổng liều cho trong 1-5 ngày).

eS. aureus kháng methicillin mắc phải trong cộng đồng.

fTại Mỹ, artesunate phải được chấp nhận bởi trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật. Đới với bệnh nhân ^ợc chẩn đoán sốt rét thể nặng, liều đầy ^ điều trị chống sốt rét ngoài tiêu hóa nên ^ợc bắt đầu với bất cứ thuốc chống sốt rét nào ^ợc khuyến cáo đầu tiên.

gHaemophilus aphrophilus, H. paraphrophilus, H. parainfluenzae, Aggregatibacter (trước đây là Actinobacillus) actinomycetemcomitans, Cardiobacterium hominis, Eikenella corrodens, và Kingella kingae.


■ CÁC DẤU HIỆU LÂM SÀNG ĐẶC BIỆT (BẢNG 26-1)

Nhiễm trùng huyết mà không có ổ nhiễm trùng rõ ràng

1.    Sốc nhiễm trùng: Vị trí nhiễm trùng đầu tiên có thể không có bằng chứng rõ ràng.

2.    Nhiễm trùng nổi bật trên bệnh nhân không có lách

a.    Hầu hết nhiễm trùng xảy ra trong vòng 2 năm sau cắt lách, với tỷ lệ tử vong khoảng 50%.

b.    Phần lớn sự nhiễm trùng là do các vi khuẩn có vỏ bọc; Streptococcus pneumoniae thường gặp nhất.

3.    Bệnh Babesia: Tiền sử gần đây có đến các vùng dịch tễ góp phần cho chẩn đoán.

a.    Các triệu chứng không đặc hiệu xảy ra trong vòng 1-4 tuần sau khi bị ve cắn và có thể tiến triển đến suy thận, suy hô hấp cấp và DIC.

b. Không có lách, tuổi >60, tình trạng suy giảm miễn dịch kèm theo, nhiễm Babesia divergens biến thể Châu Âu, và đồng nhiễm với Borrelia burgdorferi (bệnh Lyme) hoặc Anaplasma phagocytophilum là các yếu tố nguy cơ làm bệnh nặng hơn.

4.    Bệnh Tularemia và bệnh dịch hạch có thể gây ra hôi chứng thương hàn hoặc nhiễm trùng huyết với tỷ lệ tử vong khoảng 30 % và nên được nghĩ đến khi có yếu tố dịch tễ thích hợp.

5.    Sốt xuất huyết do vi rút: bệnh vi rút có vector truyền bệnh là động vật châ đốt hoặc nguồn gốc từ động vật (vd: sốt Lassa ở Châu Phi, sốt xuất huyết do vi rút hanta với hội chứng suy thận ở Châu Á, nhiễm vi rút Ebola và Marburg ở Châu Phi, và sốt vàng ở Châu Phi và Nam Mỹ). Sốt Dengue là bệnh lý nhiễm virut Arbo phổ biến nhất trên thế giới; sốt xuất huyết Dengue là thể nặng hơn, với tam chứng: dấu hiệu xuất huyết, thoát huyết tương và giảm tiểu cầu <100,000/gL. Tỷ lệ tử vong là 10-20% nhưng lên đến 40% nếu tiến triển hội chứng sốc dengue. Chăm sóc hỗ trợ và liệu pháp bồi hoàn dịch giúp cứu sống bệnh nhân.

Sốc nhiễm trùng với các biểu hiện ở da

1.    Nổi ban dát sẩn: thường không khẩn cấp nhưng có thể xảy ra trong giai đoạn đầu của nhiễm trùng huyết do não mô cầu hoặc bệnh rickettsia.

2.    Đốm xuất huyết: cần chú ý khẩn cấp khi kèm theo hạ huyết áp hoặc có biểu hiện ngộ độc

a.    Nhiễm trùng huyết do não mô cầu: trẻ nhỏ có tiền căn tiếp xúc trong gia đình là yếu tố nguy cơ rõ nhất; sự bùng phát có thể xảy ra ở trường học, trung tâm chăm sóc ban ngày và doanh trại quân đội.

i.    Đốm xuất huyết bắt đầu xuất hiện ở cổ chân, cổ tay, nách và bề mặt niêm mạc và tiến triển đến ban xuất huyết và DIC.

ii.    Các triệu chứng khác gồm đau đầu, buồn nôn, đau cơ, thay đổi tri giác, và dấu kích thích màng não.

iii.    Tỷ lệ tử vong là 50-60%; khởi phát điều trị sớm có thể cứu được bệnh nhân.

b.    Sốt phát ban miền núi Rocky: Tiền sử bị ve cắn và/hoặc du lịch hoặc hoạt động ngoài trời có thể giúp xác định chẩn đoán.

i. Ban xuất hiện khoảng ngày 3 (nhưng không boa giờ xuất hiện ở 1015% bệnh nhân). Những vết ban nhợt màu trở nên xuất huyết, bắt đầu ở cổ tay và cổ chân và lan rộng sang 2 chân và thân người (lan hướng tâm), sau đó là lòng bàn tay và lòng bàn chân.

ii. Các triệu chứng khác gồm đau đầu, khó chịu, đua cơ, buồn nôn, nôn, và chán ăn. Trong những trường hợp nặng, có thể gặp hạ huyết áp, viêm não và hôn mê.

c. Bệnh sốt do rickettsia khác: Sốt phát ban Địa trung hải (Châu Phi, Tây Nam Á và Nam Trung Á, Nam Âu) đặc trưng bởi vảy do nhiễm trùng tại vị trí ve cắn và có tỷ lệ tử vong khoảng 50%. Sốt phát ban thành dịch xảy ra ở vùng nhiễm chấy rận, thường ở những nơi nghèo đói, chiến tranh hoặc thảm họa thiên nhiên; tỷ lệ ử vong là 10-15%. Trong bệnh sốt do ấu trùng mò (Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương), sinh vật gây bệnh được tìm thấy ở những nơi cây cối rậm rạp (vd: bờ sông); 1-35% bệnh nhân tử vong.

3 Ban xuất huyết bạo phát: biểu hiện da của DIC với những vùng bầm máu lớn và các bóng xuất huyết. Chủ yếu là do nhiễm Neisseria meningitidis những cũng có thể liên quan đến S. pneumoniaeHaemophilus influenzae trên bệnh nhân không có lách.

4.    Hoại thư dạng loét nông: Biểu hiện bóng xuất huyết với hoại tử và loét trung tâm và một vành ban đỏ trên bệnh nhân sốc nhiễm trùng do Pseudomonas aeruginosa hoặc Aeromonas hydrophila

5.    Sang thương xuất huyết hặc bỏng rộp: có thể gây ra bởi Escherichia coli và các vi sinh vật thuộc Chi Vibrio (Vvulnificus và các phẩy khuẩn không gây tả khác từ nước biển hoặc các động vật có vỏ còn sống bị nhiễm bệnh), Aeromonas,Klebsiella, đặc biệt trên những bệnh nhân có bệnh gan

6.    Chứng đỏ da: nổi ban giống như bỏng nắng lan rộng, thường liên quan đến hội chứng sốc nhiễm độc (TSS, được xác định dựa trên tiêu chuẩn lâm sàng: hạ huyết áp, suy đa cơ quan, sốt và phát ban) trên những bệnh nhân bị bệnh cấp tính; thường gặp TSS do staphylococci hơn TSS do streptococci

Nhiễm trùng huyết với ổ nhiễm trùng nguyên phát ở cơ/mô mềm

1.    Viêm cân mạc hoại tử: đặc trưng bởi hoại tử mô dưới da và cân mạc lan rộng; điển hình gây ra bởi streptococci nhóm A

a.    Khám lâm sàng quan trọng trong trường hợp sốt cao và đau không tương xứng với các triệu chứng thực thể ; vùng viêm nhiễm đỏ, nóng, bóng, và nhạy cảm quá mức. Giảm đau khi không điều trị là dấu hiệu biểu hiện sự phá hủy các dây thần kinh ngoại biên.

b.    Yếu tố nguy cơ: chấn thương, thủy đậu, sinh con, và bệnh kèm theo (vd: ĐTĐ, bệnh mạch máu ngoại biên, sử dụng thuốc đường tĩnh mạch)

c.    Tỷ lệ tử vong khoảng 100% nếu không phẫu thuật, >70% trong trường hợp có TSS, và 15-34% về tổng thể.

2.    Hoại tử cơ do Clostridium: thường liên quan đến chấn thương hoặc phẫu thuật, với hoại thư lớn phát triển trong vòng vài giờ từ lúc khởi phát

a.    Những trường hợp không có yếu tố khởi phát liên quan đến nhiếm Clostridium septicum và bệnh lý ác tính kèm theo.

b.    Đau và các dấu hiệu ngộ độc không tương xứng với các triệu chứng khi khám. Nhiều bệnh nhân thờ ơ và có thể có cảm nhận về cái chết sắp đến.

c.    Da ở vùng bị ảnh hưởng có đốm, màu nâu đồng, và phù. Có thể có tiếng lép bép khi sờ. Những sang thương bóng nước có thể dẫn lưu với dịch huyết thanh-máu có mùi dịu hoặc hôi như chuột.

d.    Tỷ lệ tử vong là 12% đối với hoại tử cơ ở chi, 63% đối với hoại tử cơ ở thân, và >65% đối với hoại tử cơ tự phát.

Nhiễm trùng hệ thần kinh kèm hoặc không kèm sốc nhiễm trùng

1.    Viêm màng não vi trùng: Hầu hết các trường hợp ở người lớn do S. pneumoniae (30-50%) hoặc N. meningitidis (10-35%) gây ra.

a.    Tam chứng kinh điển gồm đau đầu, dấu hiệu kích thích màng não, và sốt chỉ có trong 1/2 đến 1/3 trường hợp.

b.    Cấy máu dương tính trên 50-70% bệnh nhân.

c.    Tiên lượng kết cục xấu gồm viêm màng não do S. pneumoniae, hôn mê, hội chứng nguy ngập hô hấp, hạ huyết áp, protein dịch não tủy >2.5 g/L, glucose dịch não tủy <10 mg/dL, WBC máu ngoại biên <5000/pL, và Na+ huyết thanh <135 mmol/L.

2.    Áp xe não: thường không có biểu hiện lâm sàng. Dấu hiệu lâm sàng thường gặp là có sang thương choáng chỗ trong não.

a.    70% bệnh nhân đau đầu và/ hoặc thay đổi tình trạng tri giác, 50% có dấu hiệu thần kinh khu trú, và 25% có phù gai thị.

b.    Sang thương bắt nguồn từ vùng nhiễm nấm bên cạnh (vd: viêm xoang hoặc viêm tai) hoặc nhiễm trùng theo đường máu (vd: viêm nội tâm mạc).

c.    >50% trường hợp nhiễm nhiều loại vi sinh vật, liên quan đến cả các vi khuẩn hiếu khí (chủ yếu là streptococcus) và kỵ khí.

d.    Tỷ lệ tử vong thấy, nhưng tỷ suất bệnh cao (30-55%).

3.    Áp xe trong sọ vá áp xe ngoài màng tủy (ICEAs and SEAs): ICEAs hiếm gặp ở Mỹ, nhưng SEA đang tăng dần. Cả hai đều thường gặp ở những vùng hạn chế về mặt chăm sóc sức khỏe.

a.    ICEAs điển hình do nhiễm nhiều loại vi sinh và có biểu hiện lâm sàng như sốt, thay đổi tình trạng tri giác và đau cổ.

b.    SEAs điển hình do nguyên nhân theo đường máu (với staphylococci thường gặp nhất) và biểu hiện như sốt, căng đau cột sống tại chỗ và đau lưng.

4.    Sốt rét thể não: nên được xem xét khẩn cấp trên bệnh nhân gần đây có đi đến vùng dịch tễ và biểu hiện lâm sàng sốt và các dấu hiệu thần kinh

a.    Nhiễm Plasmodium falciparum khởi phát nhanh liên quan đến sốt >40°C, hạ huyết áp, vàng da, ARDS, và chảy máu. Cứng gáy và sợ ánh sáng hiếm gặp.

b.    Nhiễm trùng chưa được xác nhận gây ra 20-30% tỷ lệ tử vong.

Hội chứng tại chỗ với tiến trình khởi phát nhanh chóng

1.    bệnh lý nhiễm trùng do nấm loại mucormycose lan từ các xoang quanh mũi lên não: biểu hiện gồm sốt nhẹ, đau xoang âm ỉ, song thị, suy giảm tri giác, phù kết mạc, lồi mắt, sang thương khẩu cái cứng nhất là ở đường giữa, và xương xoăn mũi sậm màu hoặc hoại tử; nhìn chung xảy ra trên bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch

2.    Viêm nội tâm mạc vi khuẩn cấp tính: biểu hiện như sốt, mệt mỏi và khó chịu trong vòng 2 tuần nhiễm trùng và liên quan đến phá hủy mạch máu nhanh chóng, phù phổi và áp xe cơ tim

a.    Nguyên nhân gồm Staphylococcus aureus, S. pneumoniae,

Listeria monocytogenes, Haemophilus spp., và streptococci nhóm A, B, or G.

b. Mặc dù có thể thấy các sang thương Janeway (mảng xuất huyết ở lòng bàn tay lòng bàn chân), các triệu chứng tắc mạch khác (vd: đốm xuất huyết, nốt Roth’s, xuất huyết mảnh vụn) ít gặp hơn .

c. Các dấu hiệu đặc trưng có thể bao gồm phá hủy van nhanh chóng, phù phổi, hạ huyết áp, áp xe cơ tim, bất thường dẫn truyền và rối loạn nhịp, các sùi dễ vỡ lớn, huyết khối động mạch lớn với thiếu máu cục bộ.

d.    Tỷ lệ tử vong là 10-40%.

3.    Bệnh than lây qua hô hấp: tăng dần, tiềm năng vi khuẩn Bacillus anthracis như là vũ khí hóa học chiến tranh

a.    Các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu, nhưng x-quang ngực có các dấu hiệu rộng trung thất, thâm nhiễm phổi và tràn dịch màng phổi.

b.    Viêm màng não xuất huyết xảy ra trên 38% bệnh nhân.

c.    Cần sử dụng kháng sinh khẩn cấp, lý tưởng với phác đồ đa thuốc trong giai đoạn tiền triệu.

4.    Cúm gia cầm (H5N1): xảy ra chủ yếu ở Đông Nam Á sau khi tiếp xúc với gia cầm. Nhiều bệnh nhân có thể phát triển nhanh chóng viêm phổi hai bên, ARDS, và suy đa cơ quan, ngưng tuần hoàn. Lấy truyền từ người sang người hiếm gặp.

5.    Hội chứng viêm phổi do Hanta vi rút: xảy ra chủ yếu sau khi tiếp xúc với loài gặm nhấm vùng nông thôn thuộc Tây Nam Hoa Kỳ, Canada và Nam Mỹ.

a.    Tiền triệu nhiễm vi rút không đặc hiệu có thể tiến triển nhanh chóng đến phù phổi, suy hô hấp, giảm chức năng cơ tim và tử vong

b.    Ở những nơi dịch tễ thích hợp, khởi phát sớm giảm tiểu cầu có thể phân biệt hội chứng này với các bệnh lý gây sốt khác.


 

Các Bài Viết Cùng Chuyên Mục

-