Home

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH DA LIỄU HAY GẶP - NGUYÊN NHÂN - CHẨN ĐOÁN - Bệnh Da Liễu

CÁC BỆNH DA LIỄU HAY GẶP


BỆNH SẨ̉N CÓ VẢY

Bệnh này xuất hiện cả sẩn và vảy da.

■ BỆNH VẢY NẾN

Một bệnh mãn tính, tái phát. Tổn thương điển hình là có ranh giới rõ, mảng hồng ban với vảy da trắng bạc trên bề mặt. Phân bố tổn thương ở các mặt duỗi (ví dụ, đầu gối, khuỷu tay, và mông); cũng có thể ở lòng bàn tay và da đầu (thường ở rìa da đầu phía trước). Bệnh có liên quan đến viêm khớp vảy nến (Chương. 172) và thay đổi ở móng (bong móng, rỗ hoặc dày của móng tay với sự tích tụ các mảnh vụn dưới móng).

ĐIỀU TRỊ BỆNH VẢY NẾN  

Duy trì độ ẩm ở da; glucocorticoid tại chỗ; bôi vitamin D tại chỗ (calcipotriene) và retinoid (tazarotene); chiếu tia UV (chiếu tia UV sóng dài kết hợp với psoralen); dùng methotrexate hoặc cyclosporine cho trường hợp nặng; acitretin cũng có thể được sử dụng nhưng gây quái thai. Alefacept (protein dime liên hợp: LFA-3 / Fc human IgG1), hoặc ustekinumab ( kháng thể đơn dòng ở người ngăn chặn tác dụng của IL-12 và IL-23) có thể được cân nhắc cho bệnh vảy nến mãn tính, vừa đến nặng. Etanercept (protein dime liên hợp: TNF receptor / Fc human IgG1), infliximab và adalimumab (kháng thể đơn dòng chống TNF) được dùng cho viêm khớp vảy nến và bệnh vẩy nến.

■ BỆNH VẢY PHẤN HỒNG

Một bệnh tự giới hạn kéo dài 3-8 tuần. Ban đầu, có một đám đơn lẻ từ 2 đến 6 cm hình khuyên màu vá màu da cam hồng (đám báo hiệu) với một vành vảy da xung quanh, tiếp theo sau vài ngày đến vài tuần phát ban toàn thân ở thân mình và đầu gần tứ chi. Tổn thương đơn lẻ giống tương tự nhưng nhỏ hơn so với đám báo hiệu và được sắp xếp đối xứng theo trục dài của mỗi tổn thương đơn lẻ cùng với các khoanh da. Bề ngoài có thể tương tự như của bệnh giang mai thứ cấp.

ĐIỀU TRỊ BỆNH VẢY PHẤN HỒNG

Bệnh tự giới hạn, vì vậy điều trị là hướng vào triệu chứng; thuốc kháng histamin đường uống cho ngứa; glucocorticoid tại chỗ; UV-B quang trị liệu trong một số trường hợp.

■ BỆNH LIKEN PHẲNG

Bệnh không rõ nguyên nhân; có thể sau dùng một số loại thuốc và bệnh mảnh ghép chống kí chủ mãn tính; tổn thương ngứa, hình đa giác, phẳng, và màu tím nhạt. Tất nhiên là khác nhau tùy mỗi trường hợp, nhưng hầu hết các trường hợp là bệnh tự thuyên giảm trong 6-24 tháng sau khi khởi phát bệnh.

ĐIỀU TRỊ BỆNH LIKEN PHẲNG

Glucocorticoids bôi tại chỗ.

BỆNH ECZEMA

■    ECZEMA

Eczema, hoặc viêm da, là một dạng phản ứng với tác nhân mà có biểu hiện đa dạng trên lâm sàng và xét nghiệm mô học; nó là biểu hiện chung cuối cùng của một số bệnh.

■    VIÊM DA CƠ ĐỊA

Một trong ba bệnh liên quan của viêm da cơ địa là viêm mũi dị ứng, hen và bệnh chàm. Bệnh thường bị theo đợt, mạn tính, ngứa rất nhiều, viêm da chàm hóa với các đám hồng ban có vảy, mụn nước,vảy tiết, và nứt nẻ. Tổn thương hay gặp nhất là ở vùng nếp gấp, nhất là vùng trước khuỷu tay và khoeo chân; đỏ da toàn thân trong trường hợp nặng.

ĐIỀU TRỊ ECZEMA VÀ VIÊM DA CƠ ĐỊA

Tránh các chất kích thích; làm ẩm da; bôi glucocorticoids tại chỗ; điều trị các tổn thương viêm nhiễm [thường do Staphylococcus aureus (SA) - lưu ý với chủng kháng methicillin ở cộng đồng (CA-MRSA)]. Glucocorticoid toàn thân chỉ dùng cho đợt cấp nặng mà không đáp ứng với điều trị nội khoa tại chỗ.

■    VIÊM DA DỊ ỨNG TIẾP XÚC

Một phản ứng quá mẫn muộn xảy ra sau khi da tiếp xúc với kháng nguyên.

Tổn thương xuất hiện tại vị trí tiếp xúc và có mụn nước, chảy dịch, vảy tiết;thường có các mụn nước xếp theo đường thẳng dài. Chất gây dị ứng thường gặp nhất là nhựa cây của giống Toxicodendron (cây thường xuân độc, gỗ sồi, cây sơn), niken, cao su, và mỹ phẩm.

ĐIỀU TRỊ VIÊM DA DỊ ỨNG TIẾP XÚC

Tránh những tác nhân dị ứng; glucocorticoid tại chỗ; cân nhắc glucocorticoid toàn thân trong 2-3 tuần cho trường hợp tổn thương lan rộng.

■    VIÊM DA TIẾP XÚC KÍCH ỨNG

Viêm da do chấn thương trực tiếp bởi một tác nhân ngoại sinh. Vị trí hay gặp nhất là bàn tay, nơi viêm da bắt đầu xuất hiện hoặc trầm trọng hơn do tiếp xúc thời gian nhiều với nước và chất tẩy rửa. Biểu hiện có thể bao gồm khô da, nứt da, ban đỏ, phù nề.

■  ĐIỀU TRỊ VIÊM DA TIẾP XÚC KÍCH ỨNG

Tránh các chất kích thích; chống nhiễm trùng da (sử dụng găng tay bảo vệ); glucocorticoid tại chỗ; điều trị nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn hoặc nhiễm khuẩn nấm ngoài da.

■ VIÊM DA TIẾT BÃ

Một bệnh không do nhiễm trùng mãn tính đặc trưng bởi các đám hồng ban có vảy da vàng nhờn. Tổn thương thường trên da đầu, lông mày, rãnh mũi má, nách, giữa ngực và vùng sau tai.

ĐIỀU TRỊ VIÊM DA TIẾT BÃ

Glucocorticoids không có fluor bôi tại chỗ; dùng dầu gội chứa nhựa than đá, salicylic acid, or selenium sulfide.

NHIỄM KHUẨN

■    BỆNH CHỐC LỞ

Một nhiễm trùng ngoài da thứ phát do S. aureus hoặc streptococci P-tan huyết nhóm A. Các tổn thương chính là mụn mủ ngoài da mà khi vỡ tạo thành vảy tiết “màu mật ong”. Mụn mủ căng có liên quan với nhiễm S. aureus (bọng mủ). Tổn thương có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào, nhưng thường ở mặt. Bệnh chốc lở và bệnh nhọt ( nốt hồng ban gây đau, hoặc nhọt) ngày càng hay gặp vì tăng tỉ lệ nhiễm tụ cầu vàng kháng methicillin mắc phải trong cộng đồng.

ĐIỀU TRỊ  BỆNH CHỐC LỞ

Cạy vảy tiết bám dính bằng nước và dùng kháng sinh bôi tại chỗ, kháng sinh uống thích hợp tùy vào tác nhan gây bệnh (Chap. 86).

■    BỆNH VIÊM QUẦNG

Viêm mô tế bào ngoài da, phổ biến nhất là ở mặt, đặc trưng bởi mảng tổn thương màu đỏ tươi, ranh giới rõ, đau nhiều, ấm. Do ngoài da bị nhiễm trùng và phù nề, trên bề mặt của mảng tổn thương có thể xuất hiện sần vỏ cam. Hay gặp nhất là do nhiễm khuẩn Streptococcus P-tan máu nhóm A, ở các vị trí chấn thương hoặc vị trí da bị tổn thương.

ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM QUẦNG

Kháng sinh thích hợp tùy vào tác nhân gây bệnh

■    HERPES SIMPLEX

Phát ban tái phát đặc trưng bởi nhiều mụn nước trên nền một ban đỏ mà sau đó bị lở loét; thường do nhiễm tụ cầu hoặc liên cầu khuẩn thứ phát. Nhiễm trùng thường xuất hiện ở bề mặt da và niêm mạc xung quanh khoang miệng, bộ phận sinh dục hay hậu môn. Cũng có thể gây bệnh nội tạng nghiêm trọng bao gồm viêm thực quản, viêm phổi, viêm não, và lây lan virus herpes simplex. Xét nghiệm tế bào Tzanck ở mụn nước hình thành cho thấy các tế bào đa nhân khổng lồ.

ĐIỀU TRỊ HERPES SIMPLEX

Sẽ khác nhau dựa trên những biểu hiện bệnh và mức độ đáp ứng miễn dịch (Chương. 108) ; kháng sinh thích hợp cho các nhiễm trùng thứ cấp, tùy vào tác nhân gây bệnh.

HERPES ZOSTER

Xuất hiện các mụn nước trên nền ban đỏ thường giới hạn trong một vùng da nhất định (”giời leo”); lây lan tổn thương cũng có thể xảy ra, đặc biệt là ở những người suy giảm miễn dịch. Xét nghiệm tế bào Tzanck thấy các tế bào đa nhân khổng lồ; không thể phân biệt với herpes simplex trừ khi cấy. Chứng đau dây thần kinh sau zona, kéo dài hàng tháng đến vài năm, có thể xảy ra, đặc biệt là ở người già.

ĐIỀU TRỊ HERPES ZOSTER

Dựa trên biểu hiện của bệnh và mức độ đáp ứng miễn dịchg.

■    BỆNH NẤM NGOÀI DA

Nấm da, có thể bị ở bất kì vị trí nào trên cơ thể; do nhiễm khuẩn lớp sừng của biểu bì, móng, hoặc tóc. Biểu hiện có thể khác nhau từ nhẹ là nhiều vảy đến viêm da gây đỏ da. Các vị trí thường nhiễm khuẩn bao gồm chân (nấm da chân ), móng tay chân (bệnh nấm móng), bẹn (nấm da đùi), hoặc da đầu (bệnh nấm da đầu). Tổn thương điển hình của bệnh nấm da thân (”hắc lào”) là một mảng hồng ban sần có vảy, thường rõ ở trung tâm và vảy da ở bờ ngoài của mảng. Sợi nấm thường thấy khi xét nghiệm với KOH, mặc dù nấm da đầu và nấm da than có thể phải cấy hoặc sinh thiết.

ĐIỀU TRỊ  BỆNH NẤM NGOÀI DA

Phụ thuộc vào vị trí tổn thương và loại nhiễm khuẩn. Thuốc imidazole bôi, triazoles, và allylamines có thể có hiệu quả. Haloprogin, acid undecylenic, Ciclopirox olamine và tolnaftate cũng rất hiệu quả, nhưng nystatin không thực sự chống nấm ngoài da. Griseofulvin, 500 mg/ ngày, nếu phải điều trị toàn thân. Itraconazole hoặc terbinafine có thể có hiệu quả đối với bệnh nấm móng.

■    NHIỄM NẤM CANDIDA

Nhiễm nấm gây ra bởi một họ của nấm men. Biểu hiện có thể khu trú ở da hoặc hiếm khi ở toàn thân và đe dọa tính mạng. Yếu tố ảnh hưởng bao gồm tiểu đường, thiếu hụt miễn dịch tế bào, và HIV (Chương. 114). Các vị trí thường xuyên xuất hiện bao gồm khoang miệng, vùng ẩm ướt kéo dài,

xung quanh các móng, vùng nếp gấp. Chẩn đoán bệnh qua biểu hiện lâm sàng và quan sát nấm men trên xét nghiệm với KOH hay cấy.

■   ĐIỀU TRỊ NHIỄM NẤM CANDIDA

(Xem thêm Chương. 115) Loại bỏ các yếu tố thuận lợi; nystatin hoặc azoles tại chỗ; điều trị toàn thân cho trường hợp suy giảm miễn dịch, bệnh mãn tính không đáp ứng hoặc bệnh tái phát; nhiễm nấm candida âm hộ-âm đạo có thể đáp ứng với một liều duy nhất fluconazole, 150 mg.

■ MỤN CÓC

Các khối u da gây ra bởi virus u nhú ở người (HPV). Thông thường các tổn thương dạng hình vòm với bề mặt dạng sợi không đều. Xu hướng xuất hiện ở mặt, cánh tay và chân; thường lây lan do cạo râu. HPV cũng liên quan với tổn thương bộ phận sinh dục hoặc hậu môn và đóng một vai trò trong sự phát triển của bệnh ung thư cổ tử cung và cơ quan sinh dục bên ngoài ở nữ (Chương. 92).

ĐIỀU TRỊ MỤN CÓC

Phương pháp áp lạnh bằng nitơ lỏng, các thuốc làm bong lớp sừng của da (axit salicylic). Đối với mụn cóc sinh dục, dùng Podophyllin có hiệu quả nhưng có thể có phản ứng tại chỗ rõ rệt; imiquimod tại chỗ cũng được dùng tại chỗ.

MỤN TRỨNG CÁ

■    VIÊM NANG LÔNG

Rối loạn thường tự giới hạn ở thanh thiếu niên và người trưởng thành trẻ tuổi. Mụn trứng cá ( các nang nhỏ được hình thành trong nang tóc) là dấu hiệu lâm sàng; thường kèm theo tổn thương viêm của các sẩn, mụn mủ, hoặc nốt. Có thể gây sẹo trong trường hợp nặng.

ĐIỀU TRỊ VIÊM NANG LÔNG

Vệ sinh sạch và loại bỏ nhờn; tetracyclin đường uống hoặc erythromycin; kháng khuẩn tại chỗ (ví dụ, benzoyl peroxide), acid retinoic tại chỗ. Dùng thuốc isotretinoin toàn thân chỉ khi mụn bọc nhiều mà không đáp ứng (nguy cơ tác dụng phụ nghiêm trọng bao gồm cả gây quái thai và có thể kết hợp với trầm cảm).

■    BỆNH TRỨNG CÁ ĐỎ

Rối loạn viêm ảnh hưởng phần lớn đến vùng giữa mặt, hiếm khi xảy ra ở những người <30 tuổi. Xu hướng ngày càng mọc nhiều quá mức, và cuối cùng thêm các sẩn, mụn mủ, và giãn mạch. Có thể dẫn đến bệnh mũi sư tử ( rhinophyma) và các vấn đề về mắt.

ĐIỀU TRỊ BỆNH TRỨNG CÁ ĐỎ

Dùng tetracycline uống, 250-1000 mg/ngày; metronidazole tại chỗ và glucocorticoids không có fluor dùng tại chỗ có thể có hiệu quả.

RỐI LOẠN MẠCH MÁU

HỒNG BAN NÚT

Viêm vách ngăn của mô mỡ dưới da đặc trưng bởi tổn thương ban đỏ, ấm, dạng nốt mềm dưới da điển hình là ở mặt trước xương chày. Tổn thương thường xuất hiện trên bề mặt da, nhưng bị cứng lại và xuất hiện vết bầm tím/đỏ. Tổn thương thường mất tự nhiên trong 3-6 tuần mà không để lại sẹo. Thường gặp trong bệnh sarcoid, sau dùng một số thuốc ( đặc biệt. sulfonamid, thuốc tránh thai, và estrogen) , và một loạt các bệnh nhiễm trùng bao gồm liên cầu và lao; có thể tự phát.

ĐIỀU TRỊ HỒNG BAN NÚT

Xác định và điều trị,loại bỏ các nguyên nhân tiềm ẩn. NSAID cho tổn thương nặng hoặc tái phát; glucocorticoid toàn thân có hiệu quả nhưng nguy hiểm nếu nhiễm trùng tiềm ẩn không được đánh giá đầy đủ.

■    HỒNG BAN ĐA DẠNG

Là phản ứng của da bao gồm đa dạng các hình thái tổn thương nhưng hay gặp nhất là sẩn hồng ban và bọng nước. Tổn thương dạng “ bia bắn” hoặc “mống mắt” là đặc trưng và gồm các vòng tròn đồng tâm của hồng ban và vùng da nâu bình thường, thường có mụn nước hoặc bọng nước ở giữa.

Phân bố các tổn thương điển hình ở ngọn chi, đặc biệt lòng bàn tay và lòng bàn chân. Ba nguyên nhân phổ biến nhất là dị ứng thuốc (đặc biệt là penicillin và sulfonamides) hoặc đồng nhiễm herpes hoặc nhiễm Mycoplasma. Hiếm khi ảnh hưởng đến bề mặt niêm mạc và cơ quan nội tạng ( khi hồng ban đa dạng tổn thương rộng hoặc hội chứng Stevens-Johnson).

■  ĐIỀU TRỊ  HỒNG BAN ĐA DẠNG

Nên tìm phát hiện thuốc gây kích ứng và loại bỏ nếu thuốc có liên quan. Trong trường hợp bệnh nhẹ tự giới hạn ở da, chỉ cần điều trị triệu chứng (thuốc kháng histamin, NSAID). Đối với chứng Stevens-Johnson, glucocorticoid toàn thân đã được sử dụng nhưng gây tranh cãi; phòng ngừa nhiễm trùng thứ cấp và duy trì dinh dưỡng và cân bằng nước điện giải là rất quan trọng.

■    MÀY ĐAY

Một rối loạn thường gặp, cấp tính hoặc mạn tính, đặc trưng bởi các tổn thương thoái triển dần (tổn thương riêng lẻ kéo dài <24 h), ngứa, phù nề, màu hồng với mảng hồng ban và vòng sáng xung quanh rìa của tổn thương riêng lẻ. Tổn thương có kích thước từ sẩn đến các thương tổn hợp lại khổng lồ (đường kính 10-20 cm). Thường do thuốc, nhiễm trùng toàn thân, hay thức ăn (đặc biệt động vật có vỏ). Phụ gia thực phẩm như nhuộm tartrazine (FD & C không có màu vàng. 5), benzoate, hay các thuốc salicylat cũng liên quan. Nếu tổn thương riêng lẻ kéo dài > 24 h, xem xét chẩn đoán viêm mạch mày đay.

■ VIÊM MẠCH

Ban xuất huyết có thể sờ thấy (tổn thương không đổi màu, nổi gờ) là dấu hiệu ở da của bệnh viêm mạch. Các tổn thương khác bao gồm xuất huyết (đặc biệt. tổn thương sớm), hoại tử loét, bọng nước, và tổn thương mày đay ( viêm mạch mày đay). Tổn thương thường xuất hiện nhất ở chi dưới. Liên quan đến nhiễm trùng, bệnh lý mạch máu-chất tạo keo, viêm mạch hệ thống nguyên phát, bệnh ác tính, viêm gan B và C, thuốc (đặc biệt. Thiazide), và bệnh viêm ruột. Có thể do tự phát, viêm mạch chủ yếu ở da.

ĐIỀU TRỊ VIÊM MẠCH

Sẽ khác nhau dụa tiên nguyên nhân. Phải xác định và điều trị, loại bỏ các nguyên nhân ngoại sinh hoặc nguyên nhân tiềm ẩn. Nếu là viêm mạch hệ thống, điều trị dụa trên các triệu chứng chính mà biểu hiện tổn thương cơ quan đó (Chương. 170). Điều trị ức chế miễn dịch nên tránh trong trường hợp vô căn, viêm mạch chủ yếu ở da là bệnh thường không đáp ứng và hiếm khi gây ra rối loạn chức năng hệ thống cơ quan.

DỊ ỨNG DA

Dị ứng da là một trong những triệu chứng thường xảy ra nhất do những độc tính của thuốc. Chúng có thể gây ra bệnh với nhiều mức độ nghiêm trọng và các biểu hiện bao gồm nổi mề đay, nhạy cảm ánh sáng, hồng ban đa dạng, phản ứng thuốc cố định, hồng ban nút, viêm mạch, phản ứng liken hóa, phản ứng thuốc bọng nước, hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử thượng bì nhiễm độc (TEN). Chẩn đoán thường dựa vào lâm sàng và hỏi kĩ tiền sử dùng thuốc.

ĐIỀU TRỊ DỊ ỨNG DA

Ngừng thuốc. Điều trị dựa vào bản chất và mức độ nghiêm trọng bệnh


 

Các Bài Viết Cùng Chuyên Mục

-