Home

CÁC DẠNG THUỐC BÔI NGOÀI DA- PHÂN LOẠI VÀ NGUÊN TẮC SỬ DỤNG - Bệnh Da Liễu

MỤC TIÊU

1. Trình bày được các dạn % thuốc bôi ngoài đa.

2. Trình bày được thành phần một công thức thuốc bôi, thuốc mỡ, kem.

1. ĐẠI CƯƠNG CÁC DẠNG THUỐC BÔI NGOÀI DA

Điều trị tại chỗ bằng thuốc bôi trong bệnh ngoài da là một trị liệu vô cùng quan trọng không thể xem nhẹ, càng không thể bỏ qua. Nhiều bệnh ngoài da, chỉ cần dùng thuốc bôi tại chỗ không cần dùng thuốc bằng đường toàn thân mà vẫn khỏi hoàn toàn.


Thuốc bôi ngoài da rất phong phú đa dạng, có nguồn gốc khác nhau. Tác dụng trị liệu của thuốc bôi ngoài da phụ thuộc rất nhiều vào các dạng thuốc. Không bao giò dược nghĩ rằng thuốc bôi trên da chỉ có tác dụng tại chỗ mà không gây ra tác dụng toàn thân nào.

ở nước ta những năm từ thập niên 80 trở về trước nhiều hiệu thuốc vẫn pha chế thuốc bôi ngoài da theo đơn. Điều này giúp tăng hiệu quả điều trị. Chỉ cần dựa vào một dạng thuốc gốc ta có thê gia giảm các hoạt chất cho phù hợp, góp phần điều trị cả căn nguyên lẫn triệu chúng của một bệnh ngoài da nào đó, miễn rằng các hoạt chất không có tính tương kỵ dược lý.

2. CÁC DẠNG THUỐC BÔI NGOÀI DA

2.1. Thành phần một công thức thuốc bôi

Một công thức thuốc bôi ngoài da có hai thành phần cơ bản là hoạt chất và tá dược.

2.1.1. Hoạt chất

Hoạt chất là chất có tác dụng điều trị bệnh. Các hoạt chất được sử dụng phổ biến:

+ Chống viêm có corticoid như hydrocortison, methyl prednisolon, dexamethason, fluomethazon, fluocinolon, betamethason...

+ Chống viêm không corticoid như indomethacin, butazolidin, diclofenac, tacrolimus.

+ ức chế bài tiết bã như lưu huỳnh

+ Tác dụng chống ngứa như phenergan

+ Chống nhiễm trùng: các loại kháng sinh

+ Bạt sừng bong vảy: acid salicylic, goudron

+ Chống nấm: các loại kháng sinh chống nấm, iod.

+ Sát trùng: nitrat bạc.

2.2.2. Tá dược

Bản thân tá dược không có tác dụng điều trị. Nó có tác dụng dẫn thuốc vào da. Tùy theo dạng thuốc, tùy loại tá dược mà thuốc có tác dụng trên mặt da, ngấm nông hay sâu xuống tổ chức dưới da. Các tá dược được sử dụng thường là nước, cồn, glycerin, lanolin, vaselin, bột. Khi chọn tá dược phải chú ý tác dụng dược lý, lý học. hóa học của hoạt chất, tính hòa tan, tính tương kỵ, độ bền vững với kiềm, acid.

Vaselin là sản phẩm còn lại khi chưng cất dầu lửa; màu trắng đục, không bị chất kiềm, toan làm thay đổi hoặc phá hủy, giữ được lâu trong không khí và ấm, không hòa tan trong nước, nhưng làm tan được các chất iod, menthol. Khi bcu lên da, vaselin làm thành một màng mỏng ngàn hơi nước bô’ ra ngoài.

Lanolin là m3 lấy ở lông cừu, có màu trắng vàng, không thiu, có khả năng hút nước, ngấm qua da dễ. Tại nhiệt độ 40° thì Lanolin chảy thành nước. Lanolin thường dùng pha chế những thuốc cần ngấm nhanh qua da.

Glycerin là một rượu 3 lần rượu, tan trong nước, trong cồn ở bất kỳ tỷ lệ nào, không tan trong ether, dầu hỏa, chlorofor. Glycerin tương kỵ vói acid HNO3, với thuốc tím.

2.2. Các dạng thuốc bôi ngoài da

2.2.2. Thuốc bột


Thuốc bột có tác dụng làm tăng bốc thoát hơi nước của da, chống xung huyết, giảm viêm, hút nước, giảm cảm giác chủ quan như giảm ngứa, giảm nóng rát. Hai loại bột thường dùng để rắc, xoa lên da là:

1. Bột thảo mộc: bột gạo, bột mì. Bột thảo mộc hút nước rất nhanh nhưng dễ lên men, vì thể không nên lưu bột gạo, bột mỳ lâu trên da. Bột than có tác dụng hút nước rất tốt, chống các thương tổn hoại tử.

2. Bột khoáng chất: bột tale, Sulfat magiê; oxyt kẽm; carbonat magie; bismuth.

3. Chỉ định:

+ Điều trị bệnh da cấp tính đang chảy nước; đỏ da cấp tính (các ban do dị ứng thuốc), sấn mày đay.

+ Các vết trợt

=> Lưu ý: khi rắc bột lên một bọng mủ, hoặc một bọng nước đã dập vỡ sẽ tạo thành một vảy tiết, ngăn cản dịch rỉ viêm, mủ thoát ra ngoài, dễ làm cho nhiễm trùng kéo dài. Một công thức thuốc bột hay được sử dụng điểu trị dị ứng thuốc thể ban đỏ

công thức

2.2.2. Dung dịch

Tá dược thường dùng là nước (nên dùng nước cất mới chế; có độ pH trung tính); cồn (nên dùng cồn 30° - 70°). Dung dịch thuốc trong cồn, thuốc ngấm sâu hờn, dễ bốc hơi hơn so với dung dịch thuốc trong nước. Nhưng nếu dùng cồn mạnh sẽ dễ kích thích da, khô da, xót. Có những hoạt chất chỉ tan trong cồn mà không tan trong nưdc. Glycerin là một tác nhân thẩm thấu, làm mất nước hút am và làm trơn.

Một số dung dịch thường dùng

- Dung dịch Jarish

Dung dịch Jarish

Tác dụng: đắp Jarish sẽ làm giảm viêm, giảm phù nề, giảm tiết dịch, sát khuẩn, chống ngứa, sạch mủ, bong váy tiết.

Chỉ định:

- Chàm cấp, chàm bội nhiễm, viêm da cấp, viêm da cấp tính bội nhiễm.

- Các thương tổn có nhiều mủ, nhiều vảy tiết.

Cách dùng: đắp gạc lên thương tổn sau đó thấm dung dịch Jarish qua gạc. Đáp liên tục không để gạc khô. Rất hiếm khi bôi dung dịch Jarish lên thương tốn da.

- Dung dịch Milian

Dung dịch Milian

Tác dụng: chống nhiễm khuẩn

Chỉ định: chốc, chàm bội nhiễm, viêm kẽ do liên cầu, các thương tổn da có bội nhiễm.

Cách dùng: bôi lên thương tổn.

- Dung dịch Castellani 

Dung dịch Castellani 

Tác dụng: chống nhiễm khuẩn

Chỉ định : chốc, chàm bội nhiễm, các bệnh ngoài da bội nhiễm

Lưu ý: không được bôi trên diện rộng, không được để thuốc dính vào niêm mạc mắt, mũi.

Cách dùng: bôi lên thương tổn 

dung dịch thường dùng để bôi lên thương tổn

Tác dụng: sát khuẩn

Chỉ định: các nhiễm khuẩn da

Cách dùng: với người lán pha loăng dung dịch Dalibour 4 lần; với trẻ em pha loãng 10 lần. Bôi ngày 1 lần.

Tác dụng: giảm bài tiết chất bã

Chỉ định: da tảng tiết chất bã; viêm da dầu; trứng cá. Trước đây dung dịch lưu huỳnh còn được dùng để chữa ghẻ.

Cách dùng: lắc đều thuốc trước khi bôi lên da.

2.2.3. Thuốc dầu

- Tá dược là dầu thực vật (thường dùng là dầu lạc trung tính)

- Hoạt chất là các chất có tác dụng điều trị như kẽm oxýt, lưu huỳnh.

Tác dụng mềm vảy, dịu da, chống khô da. Thường được dùng trong các bệnh cấp tính hoặc bệnh đang vượng.

- Dầu kẽm

dầu kẽm

Cách dùng: bôi lên da

2.2.4. Thuốc hồ

Thuốc hồ có tý lệ bột từ 20 — 50%

Thuốc hồ không ngấm sâu bằng thuốc mỡ do có tỷ lệ bột cao hơn.

Có hai dạng thuốc hồ:

thuốc Hồ Brocq

hồ nước

Thuốc hồ có tác dụng: giảm viêm, giảm xung huyết, hút nước.

Chỉ định: các bệnh da có xuất tiết giai đoạn bán cấp, chảy nước ít, chàm bán cấp. viêm da tiếp xúc bán cấp.,.

Cách dùng: lắc đều thuốc trước khi bôi.



2.2.5. Thuốc mỡ

Đây là dạng thuốc bôi ngoài da phổ biến và được sử dụng nhiều nhất. Tá dược là các chất béo. Hoạt chất là các chất được sử dụng tùy theo mục đích điều trị (thuốc chống nấm. chống viêm, chống dị ứng, chống nhiễm trùng, chống ngứa, bong vảy bạt sừng). Tý lệ chất bột trong thuốc mỡ < 20%; thông thường là 5 - 10%. So với thuốc hồ, thuốc mỡ ngấm sâu hơn do có các chất béo làm giản mạch. Thuốc mỡ làm tăng hấp thụ của da. mềm da, bong vảy chống khô da, nhưng gây bết da, hạn chế bốc hơi, gây xung huvết vì vậy các trường hợp dang phù nề, chày nước, thương tồn da đang cấp tính không dùng thuốc mỡ. Mỡ thường được chỉ định trong các bệnh da mạn tính, dày da, có vảy.

thuốc mỡ

2B -DA LIỄU HỌC

2.2.6. thuốc kem

Kem là một công thức mỡ nhưng có thêm nước hoặc glycerm.

Tác dụng làm mát da, không ngấm sáu hang mỡ. Dạng thuốc kem để điều trị trong các bệnh da bán cấp

thuốc kem

2.2.7. Thuốc Gel

Tá dược là một polvmere cấu trúc phân tử cao, trong suốt.

Dạng gel có tác dụng làm sạch da, không nhờn da, không bịt lỗ chân lông, ngấm sâu dưới da giải phóng hoạt chất nhanh, Gel được chi định trong các loại viêm da bán cấp.

3. NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG THUỐC BÔI NGOÀI DA

- Thuốc phải không gây hại cho cơ thể. Không làm bệnh nặng lên. Không xuất hiện bệnh do bán thần thuốc gây ra.;

- Sử dụng thuốc bôi ngoài da phai phù hợp với tính chất bệnh lý, giai doạn bệnh, mức độ bệnh, vùng da bị bệnh, tuổi, giới; nghề nghiệp của bệnh nhân.

Thí dụ:
+ Chàm cấp nên đắp dung dịch Jarish

+ Chàm bán cấp nên bôi thuốc hồ

+ Chàm mạn tính nên bôi thuốc mỡ. Các vùng nếp gấp nên hạn chế bôi thuốc mỡ.

+ Một số thuốc không được bôi vào niêm mạc, mắt, miệng, sinh dục.

+ Để tránh phản ứng của da có thể xảy ra, mới đầu nên dùng thuốc có đậm độ thấp, nếu cơ thể chịu được mới dùng đậm độ cao. Một số mỹ phẩm trước khi bôi lên mặt. nên bôi thử vào một vùng da ở lưng hoặc ở tay. Nếu không có phản ứng có hại mới bôi lên mặt.

+ Không nên bôi một loại thuốc trên một vùng da kéo dài.

+ Không nên pha chế một thuốc bôi có các chất tương kỵ dược lý.

+ Theo dõi phàn ứng da của bệnh nhân vì có thể thuốc bôi gây dị ứng.

TỰ LƯỢNG GIÁ

1. Trình bày các dạng thuốc bôi ngoài da?
2. Hãy nêu nguyên tác sử dụng thuốc bôi ngoài da?
3. Nêu thành phần 1000 ml dung dịch Jarish, cách dùng dung dịch Jarish?
4. Nêu thành phần 100 ml dung dịch A.S.A?

Các Bài Viết Cùng Chuyên Mục

-